TÒA ÁN TỐI CAO HOA KỲ: TÒA ÁN CAO NHẤT CỦA QUỐC GIA (Lời giới thiệu) Thứ Năm, Dec 11 2008 

William H. Rehnquist
Chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kỳ
“…Tòa ánTối cao Hoa Kỳ với tư cách là tòa án hiến pháp… là đóng góp riêng, quan trọng bậc nhất của Hoa Kỳ đối với nghệ thuật quản lý nhà nước”.

Năm 1787, những người cha lập quốc của chúng ta đã soạn thảo hiến pháp phân chia quyền lực của chính phủ liên bang thành ba ngành – lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi ngành được trao một số quyền hạn nhất định. Song, Hiến pháp cũng đã thiết lập một thể chế nhằm thực thi các điều khoản của nó – Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ý tưởng xây dựng một tòa án hiến pháp đã được triển khai rộng rãi ở nhiều quốc gia châu Âu, nhất là sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai và một số quốc gia thuộc Liên Xô trước đây. Nhưng vào năm 1787, tòa án đó chỉ duy nhất có tại Hoa Kỳ.

Hiến pháp của chúng ta được phê chuẩn năm 1789 và hai năm sau – năm 1791 – 10 điều bổ sung sửa đổi đầu tiên đã được thông qua. Những điều bổ sung sửa đổi này hay còn được gọi là Tuyên ngôn Nhân quyền đã đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo và nhiều quyền khác, trong đó có quyền dành cho các bị cáo được xét xử thông qua một bồi thẩm đoàn trong các vụ án hình sự. Việc đảm bảo những quyền đó không phải chỉ duy nhất người Mỹ mới có. Trước năm 1791 rất lâu, nước Anh đã ban hành Magna Carta (Đại hiến chương nước Anh), Đơn thỉnh cầu về Quyền con người và Tuyên ngôn Nhân quyền. Và vào năm 1789, người Pháp đã thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền. Song tư tưởng cho rằng những quyền này phải được thực hiện thông qua các thẩm phán độc lập với ngành hành pháp lại chưa xuất hiện trong bất cứ hệ thống chính phủ nào khác tính đến thời điểm đó trong lịch sử.

Tôi tin rằng việc thiết lập Tòa án Tối cao Hoa Kỳ với tư cách là một tòa án hiến pháp có quyền thực thi các điều khoản quy định trong Hiến pháp – trong đó có các biện pháp đảm bảo quyền tự do cá nhân – lại là đóng góp riêng, quan trọng nhất của Hoa Kỳ đối với nghệ thuật quản lý nhà nước.

Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 4/2005

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ej0405_i.html

TÒA ÁN TỐI CAO HOA KỲ: TÒA ÁN CAO NHẤT CỦA QUỐC GIA (Bài 8: Những người làm việc ở hậu trường) Thứ Năm, Dec 11 2008 

Tòa án Tối cao Hoa Kỳ tuyển 10 nhân viên trợ giúp Tòa án thực hiện chức năng của mình. Chúng tôi xin giới thiệu tự truyện của bốn nhân viên hiện đang làm việc tại Toà: thư ký, người phụ trách lễ nghi tại Toà, người thông báo quyết định của Tòa và nhân viên thông tin công chúng. Các nhân viên nàynói về vai trò của họ trong hoạt động của Tòa và những cảm nghĩ về nghề nghiệp của họ. Những nhân viên còn lại bao gồm trợ lý hành chính cho Chánh án, nhân viên thư viện, giám đốc về ngân sách và nhân sự, luật sư, người trông coi bảo tàng và người quản lý hệ thống dữ liệu.

William K. Suter
Thư ký

William K. Suter trở thành thư ký thứ 19 của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ năm 1991. Trước đó, ông là một viên chức sự nghiệp và là luật sư trong Lục quân Hoa Kỳ; ông nghỉ hưu với hàmthiếu tướng. Ông tốt nghiệp Trường Đại học Trinity tại San Antonio, bang Texas và Trường Luật thuộc Đại học Tulane tại New Orleans, bang Louisiana.

Khi tôi chuẩn bị kết thúc nghề luật sư của mình trong Lục quân và chuẩn bị rời quân ngũ, tôi được biết vị trí thư ký trong Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đang còn trống. Tôi nộp đơn và đã được tiếp nhận hai ngày sau cuộc phỏng vấn. Đó là thời gian 14 năm về trước và tất cả mọi ngày đều rất tuyệt vời đối với tôi kể từ khi tôi được chỉ định làm thư ký thứ 19 của Tòa.

Nhiệm vụ của thư ký về cơ bản là điều phối giữa luật sư, nguyên đơn, người dân và Tòa án.

Tất cả các tòa án trên thế giới mà tôi biết đều có một thư ký. Tại Canada, người này được gọi là nhân viên phụ trách hành chính. Tại Bra-xin, người này được gọi là tổng thư ký. Tại tất cả các nước châu Âu và châu Á, tất cả các tòa án đều có thư ký.

Tại Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, khi bạn đến để kiện, để kháng cáo hay kiến nghị, bạn sẽ không đến để gặp luật sư mà thay vào đó làgặp thư ký hoặc một người do họ chỉ định, những người này xử lý các công việc giấy tờ pháp lý. Tại Toà, chúng tôi có 32 người trong đó có những trợ lý luật sư, những người không phải là trợ lý luật sư và các luật sư, tất cả đều được đào tạo chuyên sâu. – Chúng tôi làm công việc thu thập tài liệu và bảo đảm rằng các vụ án đủ điều kiện để được Tòa xử và hồ sơ vụ án được lập một cách nhanh chóng.. Chúng tôi chuẩn bị các tài liệu để dựa vào đó các thẩm phán có thể đưa ra quyết định đối với các bên.

Đồng thời tôi cũng có những nhiệm vụ mang tính nghi lễ khác tại Tòa. Chẳng hạn như tôi sẽ tham dự tất cả các phiên tranh tụng tại Toà; Tôi ngồi bên đầu một hàng ghế còn đầu kia là nhân viên phụ trách nghi lễ của Tòa. Chúng tôi ngồi đó để trợ giúp cho các thẩm phán khi họ cần. Đồng thời, khi có kiến nghị gửi lên đề nghị Tòa chấp nhận một luật sư nào đó – để được làm bất cứ điều gì tại Toà, bạn phải là một thành viên trong đoàn luật sư của chúng tôi – Chánh án sẽ xem xét và chấp nhận kiến nghị, sau đó tôi sẽ giám sát lễ tuyên thệ của những thành viên mới của đoàn.

Tôi đã nghe hơn 1.000 cuộc tranh tụng kể từ khi làm việc tại đây và mặc dù các luật sư, những người đứng trước Tòa án Tối cao, đã nghiên cứu và tập luyện phần tranh tụng của mình hàng trăm giờ đồng hồ, nhưng họ vẫn rất run vì khi đứng trước chín thẩm phán rất tài ba, những người đã đọc hồ sơ rất kỹ càng và đã chuẩn bị hàng tá những câu hỏi.

Chúng tôi cố gắng giúp các luật sư để họ không mất bình tĩnh khi tranh tụng tại Tòa và tôi đã viết một cuốn sách nhỏ gợi ý cho các luật sư về những gì cần làm hoặc không nên làm. Trong bất cứ trường hợp nào thì phần tranh luận cũng hết sức quan trọng.

Tất cả các thẩm phán hiện tại của Tòa án Tối cao đều đang ở khóa thứ 11 và Tòa tiếp tục được điều hành bởi hai điều: truyền thống và kỷ luật công việc. Một ví dụ về truyền thống của Tòa là trang phục mặc buổi sáng, bao gồm áo đuôi tôm và quần kẻ sọc mà người phụ trách lễ nghi của Tòa và tôi mặc bất cứ khi nào chúng tôi hiện diện tại Toà và đó là trang phục mà tất cả các thư ký và người phụ trách lễ nghi trước chúng tôi đã mặc. Còn xét về kỷ luật công việc thì không bao giờ có sự phân biệt vụ kiện lớn hay vụ kiện nhỏ; tất cả các vụ kiện đều quan trọng và không ai có thể để cho những cảm xúc cá nhân chen vào công việc. Bạn chỉ thực hiện công việc của mình mà thôi.

Là một sinh viên luật trong nhiều năm, là một luật sư và là một người Mỹ và luôn luôn tôn trọng hệ thống pháp luật và Tòa án Tối cao nên chỉ việc bước vào tòa nhà này mỗi sáng thôi cũng đã làm cho tôi cảm thấy thật đáng giá. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng tôi đều chia sẻ ý thức trách nhiệm là chúng tôi ở đây để làm việc vì Tòa án nhằm thực thi những nhiệm vụ được Hiến pháp quy định vì người dân của mình.

Pamela Talkin
Người phụ trách an ninh

Pamela Talkin là người phụ trách an ninh thứ 10 của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ và là người phụ nữ đầu tiên giữ vị trí này. Bà có bằng cử nhân và thạc sĩ bằng tiếng Tây Ban Nha của Trường Brooklyn thuộc Đại học Thành phố New York. Trước đó, bà là Phó Giám đốc điều hành của Văn phòng Hướng dẫn Tuân thủ Pháp luật Hoa Kỳ.

Tôi giám sát về an ninh, hoạt động và việc bảo trì tòa nhà của Tòa án Tối cao. Vai trò dễ thấy nhất của tôi là tham dự tất cả các phiên làm việc của Tòa để thực hiện nhiệm vụ của người mõ tòa khi Tòa làm việc từ tháng 10 đến tháng 6. Trước khi phiên tòa bắt đầu, tôi gõ búa giới thiệu chín vị thẩm phán – tôi là người duy nhất trong phòng xử án có búa trong tay – và khai mạc phiên tòa bằng những tiếng hô khai mạc chính thức, trong đó có “Oyez! Oyez! Oyez!”

Tôi là người phụ nữ đầu tiên và là người phụ trách an ninh thứ mười duy nhất tại Tòa.. Tất cả những người tiền nhiệm của tôi đều mặc lễ phục. Khi tôi nhận nhiệm vụ này, tôi cũng đã phải mặc trang phục tương tự mà những người đàn ông trước tôi vẫn luôn mặc để tham dự các phiên toà: bộ lễ phục buổi sáng với áo đuôi tôm, quần có sọc nhỏ và một chiếc áo vét.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của tôi là bảo đảm an ninh cho Tòa. Tôi phụ trách lực lượng cảnh sát độc lập của Tòa. Lực lượng này bảo vệ tòa nhà và bảo đảm an ninh cho các thẩm phán, cho những nhân viên khác của Tòa và khách tham quan. Khoảng tám tuần sau khi tôi nhận nhiệm vụ tại đây, vụ tấn công khủng bố nước Mỹ ngày 11/9/2001 đã xảy ra. Xét về mặt an toàn và an ninh của Toà, sự kiện đó đã thay đổi cách nhìn nhận của chúng tôi về vấn đề an ninh và việc tiếp cận những khu vực công cộng.

Một trong những nhiệm vụ khác của tôi là “hộ tống Toà”, có nghĩa là tôi phụ trách việc tháp tùng các thẩm phán tới Quốc hội để nghe Thông điệp Liên bang, tới dự lễ nhậm chức của Tổng thống và các đám tang cấp nhà nước và tới các buổi lễ chính thức khác cũng như bảo đảm an ninh cho họ tại các sự kiện này. Ngoài ra, văn phòng của tôi cũng điều phối hoạt động của khoảng 1.000 buổi giảng bài, các cuộc tiếp tân, chiêu đãi và các hoạt động khác diễn ra hàng năm tại Tòa án Tối cao.

Do tầm quan trọng của Tòa trong khuôn khổ hiến pháp cũng như đối với đất nước , nên nếu để làm công việc thường nhật thì đây là một nơi tuyệt vời.. Tất cả những con người ở đây đều cực kỳ chuyên nghiệp, tự tin và tài trí. Mỗi ngày đều mang lại một điều mới. Tòa án và các thẩm phán đang làm những việc cao cả, như một phần trong truyền thống lâu dài của họ. Hàng ngày, khách du lịch đến thăm tòa nhà Tòa án Tối cao không chỉ vì nó có kiến trúc tuyệt đẹp mà nó còn là một biểu tượng đặc biệt cho vai trò triết học và chính trị của Tòa.

Một trong những điều làm tôi rất ngạc nhiên là mặc dù các thẩm phán và một số nhân viên làm việc ở đây có vai trò rất quan trọng song Tòa án Tối cao không vì thế mà là một thiết chế mang tính thứ bậc quá khắt khe. Tất cả chúng tôi đều tôn trọng thiết chế này và những vị trí mà mọi người nắm giữ và tất cả mọi người đều rất thân thiện và bình đẳng với nhau.

Frank Wagner
Người thông báo quyết định của Toà

Frank Wagner trở thành người thông báo quyết định thứ 15 của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ năm 1987. Ông tốt nghiệp Đại học Cornell tại Ithaca, New York và Trường Luật Dickinson tại Carlisle, Pennsylvania. Trước đó, ông từng là luật sư và là người biên tập các văn bản pháp luật.

Nhiệm vụ chính của tôi là xuất bản tất cả những văn bản pháp lý Tòa án đưa ra thành một tập sách có tên là Các Báo cáo của nước Mỹ. Những tập sách này là ấn phẩm chính thức của Tòa.

Trước khi Tòa đưa ra một văn bản giải thích phán quyết, tôi và các nhân viên sẽ kiểm tra kỹ lưỡng độ chính xác của lời trích dẫn, các lỗi đánh máy và lỗi ngữ pháp. Chúng tôi cũng tóm tắt phân tích những văn bản này. Một luật sư và một trợ lý pháp lý trong văn phòng của tôi sẽ đọc dự thảo của tất cả các văn bản giải thích phán quyếttrước khi chúng được đưa ra.

Tôi là người phụ trách việc thông báo quyết định thứ 15 của Tòa án Tối cao kể từ năm 1789. Alexander Dallas là người đầu tiên và ông thực hiện nhiệm vụ này ngay từ những ngày đầu tiên khi Tòa bắt đầu làm việc năm 1789. Ông không phải là một nhân viên của Tòa mà chỉ là người ghi chép một cách cẩn thận những gì đã diễn ra tại Tòa và bán những ghi chép đó cho công chúng. Ngày nay, vị trí mà tôi đang nắm giữ là một trong năm vị trí được quy định trong luật.

Bất cứ luật sư nào đến Tòa án Tối cao để tranh tụng đều sử dụng các báo cáo của chúng tôi để nghiên cứu kỹ lưỡng về các quyết định của Tòa trong các vụ việc trước đó. Nhiều khi trong phần tranh tụng, các thẩm phán yêu cầu các luật sư phân biệt những lập luận của họ với những gì mà Tòa đã quyết định trong những vụ án khác. Sự khác nhau về vị trí của một dấu phẩy có thể thay đổi ý nghĩa pháp lý của một phán quyết. Nếu bạn tranh tụng trong một vụ án tại Tòa án Tối cao, bạn phải biết chính xác những gì mà Tòa đã nói. Các luật sư, thẩm phán và các Giáo sư Luật đều sử dụng các báo cáo của chúng tôi.

Vài năm trước, một khách tham quan nước ngoài đã hỏi tôi rằng Tòa làm cách nào để không cho báo chí và những người khác thông tin sai lạc về các quyết định của Tòa. Câu trả lời là chúng tôi chuẩn bị các báo cáo chính thức về các quyết định của Tòa và phát hành chúng càng nhanh càng tốt dưới dạng bản in hoặc trên Internet.

Theo thời gian việc vi tính hóa các hồ sơ của Toà, đã làm thay đổi cơ bản công việc của chúng tôi. Trước đây, người ta phải đợi ít nhất là ba hay bốn ngày để có được một bản sao từng văn bản giải thích phán quyết của Tòa. Ngày nay, chúng tôi dùng thiết bị điện tử để chụp các quyết định của Tòa và đưa chúng lên trang Web của chúng tôi trong vòng một vài giờ sau khi Tòa đưa ra và tất cả những người quan tâm tới vụ việc ở mọi nơi trên thế giới đều có thể đọc được những gì mà Tòa đã phán quyết.

Trước khi vào làm việc cho Tòa án Tối cao, tôi là người biên tập các văn bản pháp luật cho một nhà xuất bản và tôi đã biên tập rất nhiều sách về luật, trong đó có cả báo cáo của Tòa án phục vụ mục đích thương mại mà tôi làm ngày nay. Tôi đã học tiếng Anh tại trường đại học và sau đó vào học trường luật. Khi rời trường luật, tôi muốn có một việc làm cho phép tôi sử dụng cả tiếng Anh và kiến thức luật của tôi. Khi vị trí này để ngỏ, tôi đã nộp đơn và được tiếp nhận làm công việc mà tôi coi là nghề biên tập các văn bản pháp luật cao quý. Tôi đã làm việc được 18 năm và hy vọng tiếp tục công việc ở đây cho đến khi nghỉ hưu.

Kathleen Landin Arberg
Nhân viên thông tin công chúng

Kathleen Landin Arberg trở thành nhân viên thông tin công chúng thứ năm của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ kể năm 1999. Bà tốt nghiệp Đại học Virginia, trước đó là thư ký phụ trách các kiến nghị tại Tòa Phúc thẩm Hoa Kỳ Khu vực số 4, là trợ lý luật sư cho Tòa án Thuế quan Hoa Kỳ và từng là người phụ trách các vụ án tại Tòa án về Phá sản của Hoa Kỳ.

Tôi là nhân viên thông tin công chúng của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ và là người thứ năm giữ vị trí bắt đầu có từ năm 1935 này. Vị Chánh án của Tòa thời đó nhận thấy rằng các văn bản giải thích phán quyết của Tòa đã bị các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin sai lệch hoặc không đưa. Để giải quyết tình trạng này, Văn phòng Thông tin Công chúng đã được thành lập với tư cách là nguồn cung cấp thông tin về Tòa án và là đầu mối cho các phóng viên và công chúng.

Với tư cách một phát ngôn viên của Toà, nhiệm vụ chính của tôi là thông tin cho công chúng về lịch sử và chức năng của Tòa. Văn phòng của tôi là nơi phát hành các lệnh và văn bản giải thích của Tòa ngay khi các thẩm phán đưa ra trong phòng xử án và tạo điều kiện cho việc đưa tin một cách chính xác về các phiên tòa.

Bộ phận báo chí của Tòa án Tối cao gồm khoảng 35 phóng viênthuộc 18 hãng thông tấn khác nhau, là những người chỉ chuyên đưa tin về Tòa. Tuy nhiên, trong những vụ nổi tiếng, có thể có tới hơn 100 phóng viên đến đưa tin. Tòa sẽ cung cấp phòng làm việc cho các phóng viên. Các nhà báo đưa tin thường xuyên về Tòa cũng được dành chỗ để làm việc. Tòa cũng cung cấp những ca-bin thích hợp cho các phóng viên của các đài phát thanh và truyền hình sử dụng để đưa tin.

Vì không được sử dụng máy quay phim và máy ảnh trong phòng xử án nên các bản phác thảo của các họa sĩ được sử dụng để minh họa cho các phiên tranh tụng. Sau phần tranh tụng, các phóng viên và các nhóm quay phim sẽ tập hợp tại phòng đá hoa cương trước Tòa để phỏng vấn các luật sư liên quan đến vụ việc.

Cho đến khi văn bản giải thích phán quyết được các thẩm phán đưa ra vào lúc 10 giờ sáng, không ai có thể đoán trước được các quyết định này, vì vậy, người ta có thể sẽ phải hồi hộp chờ đợi. Điều này đặc biệt đúng khi khóa làm việc của Tòa sắp kết thúc, đó là lúc các vụ khó dự đoán hơn sẽ được tòa quyết định.

Văn phòng của tôi sắp xếp các văn bản giải thích phán quyết theo đúng trật tự mà chúng được thông báo tại phòng xử án. Chúng được thông báo theo thứ tự dựa trên thâm niên của các thẩm phán.

Chúng tôi nghe thông báo của Tòa qua các loa phóng thanh trong văn phòng của mình và phát những văn bản này ngay khi chúng được đọc tại phòng xử án. Vị thẩm phán viết văn bản giải thích phán quyết sẽ tóm tắt một số thông tin về vụ việc và quyết định của Tòa. Một số phóng viên ngồi tại văn phòng của chúng tôi để nghe xử án vì vậy họ có thể có ngay bản sao các văn bản giải thích phán quyết và bắt đầu viết bài. Những nhà báo khác lại nghe thông báo tại phòng xử án ở nơi dành riêng cho các nhà báo

Văn phòng Thông tin Công chúng không bao giờ bình luận hoặc tìm cách giải thích một văn bản nào đó, bởi vì những văn bản của Tòa đã tự giải thích rồi. Tuy nhiên, chúng tôi có thể hướng dẫn các nhà báo tìm nguồn thông tin hoặc liên lạc với những người có thể giúp họ ở bên ngoài Tòa như các luật sư tham gia vào vụ việc hoặc các chuyên gia về luật hiến pháp.

Ý kiến nêu trong bài viết này là của các tác giả.
Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ej0405_ix.html

TÒA ÁN TỐI CAO HOA KỲ: TÒA ÁN CAO NHẤT CỦA QUỐC GIA (Bài 7: Các thẩm phán Toà án Tối cao) Thứ Năm, Dec 11 2008 

Các thẩm phán hiện nay của Toàn án Tối cao Hoa Kỳ: Antonin Scalia, John Paul Stevens, Chánh án William H. Rehnquist, Sandra Day O’Connor và Anthony M. Kennedy, Ruth Bader Ginsburg, David Hackett Souter, Clarence Thomas và Stephen G. Breyer. Tiểu sử đầy đủ của các thẩm phán có thể tìm thấy tại trang Web của Tòa án Tối cao: http://www.supremecourtus.gov/about/biographiescurrent.pdf.

Chánh án William H. Rehnquist sinh năm 1924 tại Milwaukee, bang Wisconsin. Ông nhận bằng luật tại Đại học Stanford tại California; hành nghề luật tại Phoenix, Arizona và là trợ lý Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ từ 1969 – 1971. Tổng thống Richard Nixon đã bổ nhiệm Rehnquist là thẩm phán của Tòa án Tối cao và ông bắt đầu công việc của mình năm 1972; năm 1986, Tổng thống Ronald Reagan đã bổ nhiệm Rehnquist làm Chánh án.

Thẩm phán Sandra Day O’Connor sinh năm 1930 tại El Paso, bang Texas. Bà nhận bằng luật tại Đại học Stanford tại Chicago và hành nghề luật tại Arizona, nơi bà là trợ lý chánh án, là thượng nghị sĩ bang và là thẩm phán của Tòa án Thượng thẩm Hạt Maricopa và Tòa Phúc thẩm Arizona. Tổng thống Ronald Reagan đã bổ nhiệm O’Connor làm thẩm phán nữ đầu tiên của Tòa án Tối cao. Bà bắt đầu nhiệm sở năm 1981.

Thẩm phán John Paul Stevens sinh năm 1920 tại Chicago, bang Illinois. Ông nhận bằng luật tại Đại học Tây Bắc tại Chicago, hành nghề luật tại Illinois và là thẩm phán của Tòa Phúc thẩm Hoa Kỳ Khu vực số 7 từ năm 1970-1975. Tổng thống Gerald Ford đã bổ nhiệm Stevens làm thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông bắt đầu nhiệm sở năm 1975.

Thẩm phán Anthony M. Kennedy sinh năm 1936 tại Sacramento, bang California. Ông nhận bằng luật tại Đại học Havard tại Cambridge, bang Massachussttes; hành nghề luật tại San Francisco và Sacramento, California; được bổ nhiệm làm thẩm phán của Tòa Phúc thẩm Hoa Kỳ Khu vực số 9 năm 1975. Tổng thống Ronald Reagan đã bổ nhiệm Kennedy làm thẩm phán Tòa án Tối cao. Ông bắt đầu nhiệm sở năm 1988.

Thẩm phán Antonin Scalia sinh năm 1936 tại Trenton bang New Jersey. Ông nhận bằng luật tại Đại học Havard tại Cambridge, bang Massachussttes; từng là một luật sư, một Giáo sư Luật học và là một quan chức chính phủ trước khi được bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa Phúc thẩm Khu vực Quận Columbia năm 1982. Tổng thống Ronald Reagan đã bổ nhiệm Scalia. Ông bắt đầu công việc của mình tại Tòa án Tối cao Hoa Kỳ từ năm 1986.

Thẩm phán Ruth Bader Ginsburg sinh năm 1933 tại Brooklyn, New York. Bà nhận bằng luật tại Đại học Columbia tại thành phố New York, là Giáo sư Luật và là Luật sư trưởng của Liên minh Tự do Dân sự Hoa Kỳ; được bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa Phúc thẩm Hoa Kỳ Khu vực Quận Columbia năm 1980. Tổng thống Bill Clinton đã bổ nhiệm Ginsburg làm thẩm phán của Tòa án Tối cao. Bà bắt đầu nhiệm sở năm 1993.

Thẩm phán David Hackett Souter sinh năm 1939 tại Melrose, bang Massachusetts. Ông nhận bằng luật tại Đại học Havard tại Cambridge, bang Massachussttes; từng là trợ lý chánh án, phó chánh án và chánh án của bang New Hampshire; là thẩm phán của Tòa Thượng thẩm New Hampshire và Tòa án Tối cao của bang New Hampshire. Tổng thống George H.W. Bush đã bổ nhiệm Souter làm thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông bắt đầu nhiệm sở năm 1990.

Thẩm phán Clarence Thomas sinh năm 1948 gần Savannah, bang Georgia. Ông nhận bằng luật tại Đại học Yale tại New Haven, bang Connecticut; từng làm luật sư riêng và giữ một vài vị trí trong Chính phủ như Chủ tịch Uỷ ban Cơ hội Việc làm Bình đẳng Hoa Kỳ; trở thành thẩm phán của Tòa Phúc thẩm Khu vực Quận Columbia năm 1990. Tổng thống George H.W. Bush đã bổ nhiệm Thomas làm thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông bắt đầu nhiệm sở năm 1991.

Thẩm phán Stephen G. Breyer sinh năm 1938 tại San Francisco, California. Ông nhận bằng luật tại Đại học Havard tại Cambridge, bang Massachussttes; từng làm việc trong Chính phủ và trong giới học giả; là thẩm phán Tòa Phúc thẩm Hoa Kỳ Khu vực số I từ 1980 – 1990 và là chánh án của Tòa này từ 1990 – 1994. Tổng thống Bill Clinton đã bổ nhiệm Breyer làm thẩm phán của Tòa án Tối cao. Ông bắt đầu nhiệm sở năm 1994.
Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 4/2005
Nguồn: https://luatsosanh.wordpress.com/wp-admin/post-new.php

TÒA ÁN TỐI CAO HOA KỲ: TÒA ÁN CAO NHẤT CỦA QUỐC GIA (Bài 6: Những phán quyết lịch sử) Thứ Năm, Dec 11 2008 

“Tòa án thừa nhận những bài học kinh nghiệm và khả năng lập luận chặt chẽ, với nhận thức rằng cũng giống như trong khoa học tự nhiên, phương pháp tiến hành công việc bằng thử nghiệm cũng rất phù hợp trong lĩnh vực tư pháp.”
– Louis D. Brandeis, Phó Thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ,
Vụ Brunet kiện Công ty Dầu khí Coronado, 1932.

Kể từ khi được triệu tập lần đầu tiên năm 1790, Tòa án Tối cao Mỹ đã đưa ra nhiều phán quyết về mọi vấn đề từ quyền lực của chính phủ tới các dân quyền và tự do báo chí. Mặc dù công chúng ít được biết tới cũng như ít quan tâm tới những phán quyết này song không thể không kể đến một số phán quyết quan trọng bởi tác động của chúng đối với lịch sử nước Mỹ. Dưới đây là tóm tắt một số vụ quan trọng nhất.

MARBURY KIỆN MADISON (1803)

Thường được cho là phán quyết quan trọng nhất trong lịch sử Tòa án Tối cao, phán quyết vụ Marbury kiện Madison đã hình thành nên nguyên tắc về quyền xem xét lại bản án và quyền của Tòa án được quyết định tính hợp hiến của các hành động lập pháp và hành pháp.

Vụ việc xuất phát từ một cuộc tranh cãi chính trị sau cuộc bầu cử tổng thống năm 1800 trong đó Thomas Jefferson, người của Đảng Dân chủ-Cộng hòa đã đánh bại Tổng thống đương nhiệm John Adams, người của Đảng Liên bang. Trong những ngày cuối cùng của chính quyền Adams, Quốc hội do những người thuộc Đảng Liên bang chiếm đa số đã bổ nhiệm một số chức vụ trong ngành tư pháp, gồm 42 chánh án tòa án địa phương của Quận Columbia. Thượng viện phê chuẩn việc bổ nhiệm, Tổng thống đã ký và trách nhiệm của Ngoại trưởng là đóng dấu vào giấy bổ nhiệm và gửi tới những người được bổ nhiệm. Tuy nhiên vào phút chót Ngoại trưởng sắp mãn nhiệm vẫn chưa gửi được giấy bổ nhiệm cho bốn chánh án, trong đó có William Marbury.

Ngoại trưởng mới dưới thời Tổng thống Jefferson, James Madison, đã từ chối không gửi giấy bổ nhiệm do chính quyền mới bực bội vì những người thuộc đảng Liên bang đã củng cố lực lượng của họ trong ngành tư pháp. Marbury kiện ra Tòa án Tối cao yêu cầu Madison phải gửi giấy bổ nhiệm ông ta.

Nếu Tòa án đứng về phía Marbury, có lẽ Madison sẽ vẫn không gửi giấy bổ nhiệm và Tòa án không có cách nào để cưỡng chế thi hành lệnh này. Còn nếu phán quyết chống lại Marbury, thì Tòa án phải chịu rủi ro tức là đã trao quyền lực của ngành tư pháp cho những người thuộc phái Jefferson, cho phép họ tước bỏ vị trí mà Marbury được hưởng một cách hợp pháp. Chánh án John Marshall đã giải quyết tình thế lưỡng nan này bằng phán quyết rằng Tòa án Tối cao không có thẩm quyền thụ lý vụ này. Marshall khẳng định rằng Khoản 13 của Đạo luật về bộ máy Tư pháp trao cho Tòa án quyền đó là không hợp hiến vì mở rộng thẩm quyền ban đầu mà Hiến pháp đã trao cho Tòa án. Quyết định không xử vụ này, Tòa án Tối cao đã bảo đảm được vị trí là người phán quyết cuối cùng của luật pháp.

GIBBONS KIỆN OGDEN (1824)

Theo những điều khoản về Hợp bang, chính phủ đầu tiên của nước Mỹ rất yếu, một phần vì không có quyền điều tiết nền kinh tế của quốc gia mới, kể cả việc điều tiết thương mại giữa các bang. Hiến pháp trao cho Quốc hội Mỹ quyền “điều tiết thương mại…giữa một số bang…”, tuy nhiên thẩm quyền đó liên tục bị các bang muốn duy trì quyền kiểm soát đối với các vấn đề kinh tế thách thức.

Đầu những năm 1800, bang New York thông qua luật yêu cầu các chủ tầu chạy bằng hơi nước đi lại giữa New York và New Jersey phải xin giấy phép từ New York. Aaron Ogden đã có giấy phép đó, còn Thomas Gibbons thì không. Khi Ogden thấy rằng Gibbons đang cạnh tranh với anh ta và không có giấy phép của New York, Ogden đã kiện Gibbons để bắt anh ta phải ngừng hoạt động.

Gibbons có giấy phép liên bang chạy tàu ven biển theo Đạo luật Bờ biển năm 1793, tuy nhiên Tòa án bang New York lại nhất trí với Ogden là Gibbons đã phạm luật vì không có giấy phép của bang New York. Tuy nhiên, khi Gibbons đưa vụ kiện ra trước Tòa án Tối cao, các thẩm phán đã cho rằng luật của New York không hợp hiến vì đã xâm phạm quyền điều tiết thương mại của Quốc hội Mỹ. Tòa án giải thích: “bản thân thuật ngữ ‘điều tiết’ đã ám chỉ đầy đủ quyền lực đối với sự vật được điều tiết”. Bởi vậy, “nó không bao hàm hoạt động điều tiết của tất cả những chủ thể khác đối với cùng sự vật”.

UỶ BAN QUAN HỆ LAO ĐỘNG QUỐC GIA (NLRB) KIỆN TẬP ĐOÀN THÉP JONES & LAUGHLIN (1937)

Mặc dù vụ Gibbons kiện Ogden khẳng định Quốc hội có quyền tối cao trong việc điều tiết thương mại giữa các bang, nhưng vụ ủy ban Quan hệ Lao động Quốc gia (NLRB) kiện tập đoàn thép Johns & Laughlin đã mở rộng thẩm quyền của Quốc hội từ điều tiết thương mại sang điều tiết các thực tiễn kinh doanh của các ngành công nghiệp tham gia vào hoạt động thương mại giữa các bang.

Johns & Laughlin, một trong những nhà sản xuất thép lớn nhất đất nước đã vi phạm Đạo luật Quan hệ Lao động Quốc gia năm 1935 khi sa thải 10 nhân công vì tham gia các hoạt động công đoàn. Đạo luật này cấm nhiều hành động bất công trong lao động và bảo vệ quyền của công nhân được thành lập các công đoàn và đàm phán tập thể. Công ty này đã không tuân thủ lệnh của NLRB yêu cầu nhận lại công nhân. Tòa phúc thẩm Khu vực không cưỡng chế thi hành lệnh này và Tòa án Tối cao đã xem xét lại vụ việc.

Vấn đề trong vụ này là liệu Quốc hội có hay không có quyền điều tiết các hoạt động “mang tính chất nội bộ” của các công ty tham gia vào hoạt động thương mại giữa các bang – tức là các hoạt động diễn ra trong phạm vi một bang. Johns & Laughlin khẳng định rằng tình hình trong nhà máy của công ty này không ảnh hưởng đến thương mại giữa các bang và do vậy không chịu sự quản lý của Quốc hội. Tòa án Tối cao không nhất trí và cho rằng “việc ngừng hoạt động (sản xuất) của công ty do xung đột ảnh hưởng nghiêm trọng nhất tới thương mại giữa các bang…Thực tiễn rõ ràng cho thấy nhận thức về quyền của người lao động được tự tổ chức và lựa chọn những người đại diện cho mình vì mục đích đàm phán tập thể là điều kiện thiết yếu của hòa bình trong công nghiệp”. Bằng việc khẳng định tính hợp hiến của Đạo luật Quan hệ Lao động Quốc gia, Tòa án Tối cao đã mang lại chiến thắng cho lao động có tổ chức và định ra một phạm vi điều tiết công nghiệp rộng lớn hơn cho chính phủ liên bang.

VỤ BROWN KIỆN HỘI ĐỒNG GIÁO DỤC (1954)

Trước khi xảy ra vụ kiện lịch sử này, ở nhiều bang và cả Quận Columbia tồn tại hệ thống các trường học phân biệt chủng tộc theo quyết định năm 1896 của Tòa án Tối cao trong vụ Plessy kiện Ferguson, theo đó, sự phân biệt là được phép nếu như cơ sở vật chất ở các trường là như nhau. Năm 1951, Oliver Brown sống tại Topeka, Kansas đã thách thức chủ nghĩa “phân biệt nhưng bình đẳng” này khi ông thay mặt đứa con gái tám tuổi của mình kiện Hội đồng Giáo dục thành phố. Brown muốn con mình được học trong trường dành cho học sinh da trắng ở cách nhà ông năm khu nhà hơn là trường dành cho học sinh da đen cách đó 21 khu nhà. Cho rằng các trường về thực chất là ngang nhau, một tòa án liên bang đã xử Brown thua kiện.

Trong khi đó, cha mẹ của những đứa trẻ da đen khác tại các bang Nam Carolina, Virginia và Delaware cũng khởi kiện. Tòa án bang Delaware đã cho rằng, các trường dành cho học sinh da đen không bằng các trường dành cho học sinh da trắng và đã ra lệnh chuyển học sinh da đen tới học tại các trường dành cho học sinh da trắng, tuy nhiên giáo viên các trường đã kháng cáo lên Tòa án Tối cao.

Cùng lúc Tòa án Tối cao đã nghe tranh tụng tất cả những vụ kiện này. Hồ sơ vụ kiện của các nguyên đơn là người da đen có những dữ liệu và ý kiến của các nhà tâm lý và các nhà khoa học xã hội trong đó giải thích tại sao họ lại cho rằng việc phân biệt đối xử là có hại đối với học sinh da đen. Năm 1954, Tòa án Tối cao đã nhất trí cho rằng”… trong giáo dục không có chỗ cho chủ nghĩa “phân biệt nhưng công bằng” và Tòa đã phán quyết rằng tình trạng phân biệt chủng tộc tại các trường công tước đi của trẻ em da đen “quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật trong Điều bổ sung sửa đổi thứ 14.”

VỤ GIDEON KIỆN WAINWRIGHT (1963)
VỤ MIRANDA KIỆN BANG ARIZONA (1966)

Hai quyết định của Tòa án Tối cao trong những năm 1960 đã bảo vệ quyền của những người bị cáo buộc phạm tội.

Clarence Earl Gideon bị bắt vì đột nhập vào một phòng chơi đánh pun tại Floria năm 1961. Khi anh ta yêu cầu có luật sư bào chữa do tòa chỉ định, thẩm phán đã bác bỏ đề nghị này vì cho rằng luật của bang chỉ yêu cầu chỉ định luật sư trong các vụ án hình sựcó liên quan đến án mạng hay hình phạt tử hình. Gideon đã tự bào chữa cho mình và bị kết tội. Trong thời gian ở tù, ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu sách luật và đã viết đơn gửi Tòa án Tối cao đề nghị xét xử vụ của ông. Tòa đã phán quyết rằng Gideon không được xét xử công bằng và rằng tất cả các bang phải chỉ định luật sư bào chữa cho những người bị cáo buộc phạm tội nhưng không có đủ khả năng thuê luật sư. Khi Gideon được xử lại với sự giúp đỡ của một luật sư bào chữa, ông đã được tuyên bố vô tội.

Chỉ ba năm sau Tòa án Tối cao đã quyết định rằng những người bị cáo buộc phải được quyền có luật sư từ lâu trước khi đưa ra xét xử. Ernesto Miranda bị một tòa án bang tại Arizona kết án với tội danh bắt cóc và hiếp dâm. Bản án này được đưa ra dựa trên lời nhận tội của Miranda trước các nhân viên cảnh sát sau hai giờ xét hỏi mà không được biết rằng ông có quyền có luật sư của mình hiện diện. Trong phán quyết của mình, Tòa đã yêu cầu rằng, các nhân viên cảnh sát khi tiến hành bắt giữ phải thông báo cho người bị bắt những gì mà sau này người ta gọi là Những khuyến cáo Miranda, tức là nghi can có quyền im lặng, rằng bất kỳ những gì họ nói có thể được dùng để chống lại họ, họ được quyền có luật sư hiện diện trong thời gian thẩm vấn và rằng họ sẽ được một luật sư bảo vệ khi không đủ khả năng thuê luật sư.

Phán quyết vụ Miranda kiện bang Arizona là một trong những phán quyết được nhiều người biết đến nhất của Tòa án Tối cao vì Những khuyến cáo Miranda thường được chuyển thể thành các bộ phim và chương trình truyền hình tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, năm 1999, một tòa phúc thẩm liên bang đã thách thức quyết định này trong vụ Dickerson kiện nước Mỹ, trong đó một người bị kết tội cướp nhà băng đã cho rằng anh ta không được biết hết về các quyền của mình. Tháng 6/2000, Tòa án Tối cao đã lật ngược vụ Dickerson bằng một phán quyết với 7 phiếu thuận 2 phiếu chống, khẳng định lại một cách mạnh mẽ hiệu lực của phán quyết vụ Miranda.

THỜI BÁO NEW YORK KIỆN SULLIVAN (1964)

Điều sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ bảo đảm quyền tự do báo chí, song trong nhiều năm Tòa án Tối cao đã không sử dụng Điều sửa đổi này để bảo vệ giới báo chí trước những vụ kiện bôi nhọ danh tiếng – những vụ kiện dựa trên việc đăng tải những thông tin sai lạc làm tổn hại đến uy tín của một người nào đó. Phán quyết của Tòa án Tối cao trong vụ Thời báo New York kiện Sullivan đã cách mạng hóa luật điều chỉnh tội bôi nhọ danh tiếng tại Hoa Kỳ khi phán quyết rằng các công chức không thể thắng kiện nếu chỉ đơn giản chứng minh rằng những thông tin đã được đăng tải là sai.. Tòa khẳng định rằng nguyên đơn còn phải chứng minh được người phóng viên hoặc biên tập viên đó đã hành động một cách “chủ tâm” và đăng tin “mà không biết liệu thông tin đó là sai hay đúng”.

Vụ kiện này xuất phát từ một quảng cáo chiếm chọn một trang trên tờ Thời báo New York của Hội nghị các Chức sắc Công giáo Miền Nam nhằm quyên tiền để bào chữa cho Martin Luther King Jr.lãnh tụ của phong trào đấu tranh đòi dân quyền, người đã bị bắt tại Alabama năm 1960. L.B. Sullivan, một uỷ viên Hội đồng thành phố tại Montgomery, bang Alabama, người phụ trách Sở Cảnh sát, khẳng định rằng quảng cáo này đã bôi nhọ ông ta vì đã viếtkhông đúng về những hành động của lực lượng cảnh sát thành phố. Sullivan đã kiện bốn mục sư đăng quảng cáo trên và kiện Thời báo New York vì đã không kiểm tra mức độ chính xác của quảng cáo này.

Thực tế thì bài quảng cáo đã có một vài sai sót và bồi thẩm đoàn đã quyết định Sullivan được bồi thường 500.000 đô-la. Thời báo New York và những lãnh tụ đấu tranh cho các dân quyền đã kháng cáo lên Tòa án Tối cao và Tòa đã nhất trí xử họ thắng kiện. Tòa đã phán rằng không thể dùng các quy định pháp luật điều chỉnh tội bôi nhọ danh tiếng để “áp đặt hình phạt đối với việc phê phán hành vi ứng xử của các công chức” và rằng việc yêu cầu các nhà phê bình bảo đảm độ chính xác trong những phát biểu của họ sẽ là hành động tự kiểm duyệt. Tòa không thấy có bằng cớ nào chứng tỏ Thời báo New York hay những mục sư đã có ác ý trong việc cho in quảng cáo này.

Được in lại từ Khái quát về Chính phủ Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
http://usinfo.state.gov/products/pubs/outusgov/ch6.htm
Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ej0405_vii.html

TÒA ÁN TỐI CAO HOA KỲ: TÒA ÁN CAO NHẤT CỦA QUỐC GIA (Bài 5: Vụ kiện Brown gây tranh cãi) Thứ Năm, Dec 11 2008 

Hồi ức của Jack Greenberg
Năm 1954, một luật sư 27 tuổi trong số 7 luật sư đã thuyết phục Tòa án Tối cao Mỹ rằng phân biệt chủng tộc là trái với hiến pháp. Vị luật sư ấy, Jack Greenberg, với tư cách một người tham gia đã chia sẻ kinh nghiệm về phán quyết được cho là quan trọng nhất của Tòa án Tối cao trong thế kỷ XX và những suy nghĩ của ông về ảnh hưởng sâu rộng của vụ Brown kiện Hội đồng Giáo dục đối với xã hội Mỹ.

Greenberg là Giáo sư Luật tại Đại học Columbia, New York, ông là tác giả của một số cuốn sách, trong đó có Đội quân vận động ở các tòa án: Nhóm luật sư tâm huyết đã đấu tranh vì cuộc cách mạng đòi dân quyền như thế nào (1994).

Phán quyết trong vụ Brown kiện Hội đồng Giáo dục ngày 17/5/1954 là một phán quyết mang tính lịch sử và chắc chắn là một trong số các phán quyết quan trọng nhất của Tòa án Tối cao. Phán quyết đó cho thấy quyền được xét xử lại các vụ án, đặc biệt là bởi Tòa án Tối cao Mỹ, có khả năng dẫn đến sự thay đổi lớn lao về mặt xã hội. Vụ Brown đã đóng góp đáng kể cho sự chuyển đổi mối quan hệ chủng tộc ở Mỹ. Nguyên tắc của vụ Brown đã thúc đẩy đất nước tiến tới bình đẳng cho phụ nữ, những người tàn tật và người già và nhấn mạnh tầm quan trọng của tất cả những yêu cầu được đối xử bình đẳng khác. Tuy nhiên khi nhóm bảy luật sư chúng tôi, đứng đầu là Thẩm phán tương lai Thurgood Marshall tranh tụng vụ kiện, chúng tôi không thể tiên liệu được tác động sâu rộng của vụ này. Chúng tôi đã thấy trước thắng lợi, thắng lợi ấy sẽ khởi động một tiến trình chậm chạp tiến tới xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc ở trường học. Chúng tôi không thể hình dung nổi phản ứng mãnh liệt của miền Nam sau đó, cũng như phong trào đấu tranh đòi dân quyền bùng phát để hưởng ứng và đạo luật về dân quyền những năm 1960 cùng những tác động lan tỏa khác.

Ngày 9/12/1952 và 8/12/1953, tôi đứng trước Tòa án Tối cao Mỹ để tranh tụng trong một vụ kiện từ Delaware, một trong năm vụ kiện được biết tới với cái tên Brown kiện Hội đồng Giáo dục, hay còn gọi là Các vụ kiện về phân biệt chủng tộc ở trường học. Mục tiêu của chúng tôi là thuyết phục Tòa án Tối cao bác bỏ vụ Plessy kiện Ferguson được phán quyết năm 1896 cho phép phân biệt chủng tộc nếu các phương tiện dành cho người da đen ngang bằng với phương tiện dành cho người da trắng – cái được gọi là học thuyết phân biệt – nhưng – bình đẳng. Tôi cùng với Louis L. Redding, luật sư người Mỹ gốc Phi duy nhất tại bang Delaware đã tranh tụng trong một vụ kiện phát sinh ở bang này.

Tại sao chúng ta phải ra tòa? Không có biện pháp nào tốt hơn ư? Trong một nền dân chủ người ta sẽ nghĩ rằng để sửa chữa những bất công nghiêm trọng đó chỉ cần có quyền bầu cử là đủ. Tuy nhiên, ở giai đoạn đó quyền bầu cử đối với nhiều người Mỹ gốc Phi chỉ là ảo tưởng. Các nghị sĩ miền Nam đã không cho họ quyền đó bằng cách từ chối thẳng thừng, lừa dối, thay đổi nguyên tắc một cách bất hợp pháp và dùng những mưu kế khác. Do được tất cả các cử tri da trắng bầu lên và tái bầu, các nghị sĩ miền Nam đã giành được vị trí cao hơn và có ảnh hưởng lớn trong Quốc hội và luôn ở thế sẵn sàng ngăn cản bất cứ khả năng thay đổi luật pháp nào.

Chúng tôi cho rằng ngành tư pháp đã mang lại một công cụ để giải quyết bất công này. Hiến pháp Mỹ quy định ngành tư pháp độc lập, phần lớn tách rời chính trị. Hiến pháp còn bao gồm Tuyên ngôn Nhân quyền với mục tiêu bảo vệ những quyền cơ bản của tất cả người Mỹ, không cho chính phủ xâm phạm, ngay cả khi chính phủ đó được đa số bầu lên và đại diện cho lợi ích của đa số. Tuy vậy vụ Brown phải trông đợi rất nhiều vào hệ thống tư pháp. Chúng tôi yêu cầu phải chấm dứt tình trạng phân biệt chủng tộc – một thực tiễn bắt nguồn từ thời kỳ nô lệ – trên một phạm vi rộng lớn của đất nước.

Chúng tôi đưa ra hai lập luận chính. Thứ nhất, các trường học phân biệt chủng tộc, nếu có thì cũng rất hiếm khi bằng nhau. Ở bất cứ đâu nếu các trường dành cho người da đen rõ ràng là tồi tệ hơn (về trường lớp, sân bãi, ngân quỹ, sách vở, giáo viên, v.v…) thì để bình đẳng, học sinh da đen phải được nhận vào những trường tốt hơn. Đây là lập luận hạn chế, vì như vậy thì không nhất thiết phải chấm dứt tình trạng phân biệt chủng tộc mà chỉ cần cải thiện các trường dành cho người Mỹ gốc Phi. Tuy nhiên cho đến khi các trường được bình đẳng hóa và ổn định theo hướng đó thì học sinh da đen và da trắng phải được học chung trường. Không có tòa án nào yêu cầu các trường phải hợp nhất trên cơ sở này.

Lập luận thứ hai của chúng tôi là phân biệt chủng tộc là trái với hiến pháp ngay cả khi các trường phân biệt chủng tộc thực sự như nhau.

Vụ kiện của chúng tôi khác so với bốn vụ Brown còn lại ở chỗ chúng tôi đã chiến thắng tại các tòa án ở Delaware, trong khi đó những nguyên đơn ở Nam Carolina, Virginia, Kansas và Quận Columbia lại thất bại. Các tòa án ở Delaware thấy các trường dành cho người da đen tồi tàn hơn và yêu cầu họ chấm dứt ngay tình trạng phân biệt chủng tộc. Tuy nhiên, theo tinh thần của phán quyết vụ Plessy, các trường này không thừa nhận phân biệt chủng tộc là trái với Hiến pháp. Bang Delaware đã kháng cáo lên Tòa án Tối cao. Do vậy lợi ích là vô cùng to lớn và tôi biết điều đó.

Khi ấy tôi 27 tuổi và mới hành nghề luật từ năm 1949 và là luật sư trẻ nhất trong số những luật sư tranh tụng ngày ấy. Lúc đó thì tôi không biết, nhưng vụ Brown là lần đầu tiên trong số hơn bốn mươi lần tôi tranh tụng trong một vụ đòi dân quyền trước Tòa án Tối cao, còn hầu hết là sau khi tôi kế nhiệm Thurgood Marshall làm giám đốc-luật sư của Quỹ Giáo dục và Bảo vệ Pháp luật (LDF) thuộc NAACP, do Hiệp hội Quốc gia vì sự Tiến bộ của Người Da màu thành lập với tư cách là cơ quan tranh tụng miễn phí cho tổ chức này. Không lâu sau, LDF tách ra trở thành một tổ chức độc lập.

Hầu như không tưởng tượng nổi, nhưng khi tôi bắt đầu hành nghề luật năm 1949, hầu hết người Mỹ gốc Phi sống ở các bang nơi mà ở đó các nhà hàng không phục vụ họ, các khách sạn từ chối họ, xe lửa và xe buýt yêu cầu họ ngồi ở phần dành riêng cho người da đen, các cửa hàng bách hóa không cho họ thử quần áo, các công đoàn yêu cầu họ về các địa phương riêng rẽ, các chủ lao động trả công họ ít hơn để làm những công việc nặng nhọc và bẩn thỉu nhất. Mặc dù về lý thuyết công dân da đen có quyền bầu cử, nhưng trên thực tế ở hầu khắp miền Nam họ không được đi bầu cử ngay cả khi những sửa đổi hiến pháp thời kỳ sau Nội chiến đã hủy bỏ chế độ nô lệ, yêu cầu các bang phải trao cho người Mỹ quyền được pháp luật bảo vệ bình đẳng và cam kết không người Mỹ nào bị tước quyền bầu cử vì “lý do chủng tộc, màu da hoặc tình trạng nô lệ trước đó”.

CHUẨN BỊ ĐỂ RA TÒA

Vào thời điểm khi vụ Brown tới được Tòa án Tối cao, tất cả chúng tôi đã chuẩn bị kỹ càng. Trong quá trình tranh tụng ở bang, tôi đã nghiên cứu rất kỹ mọi khía cạnh của các trường học có liên quan tới phân biệt chủng tộc và tác động của tình trạng phân biệt chủng tộc đối với trẻ em ở các trường đó. Tôi đã nghiên cứu, phân tích luật và nguồn gốc của nó nhiều lần đến mức tôi có thể đọc thuộc lòng trong khi ngủ. Tại các phiên tòa ở Delaware và các phiên tòa khác, chúng tôi đã đưa ra rất nhiều bằng chứng về trường lớp, sân bãi, trang thiết bị, sách vở, giáo viên và nhiều thứ nữa. Những nhân chứng của chúng tôi là các nhà giáo dục, các nhà tâm lý học và các chuyên gia tâm thần học – những người đã chứng minh việc phân biệt chủng tộc cản trở trẻ em học hành như thế nào. Sau đó tôi và Louis Redding đã tranh tụng tại Tòa án Tối cao của bang. Chúng tôi viết rất nhiều tóm tắt hồ sơ vụ kiện gửi Tòa án Tối cao Mỹ. Trong những ngày trước khi tranh tụng tại Tòa án Tối cao, chúng tôi đã diễn tập trước một tòa án giả định gồm các luật sư và giáo sư luật. Các đồng nghiệp của chúng tôi trong các vụ khác cũng có sự chuẩn bị tương tự. Tôi diễn tập tất cả các vụ tôi tham gia tại Tòa án Tối cao và hầu như lần nào Tòa án Tối cao thật cũng hỏi tôi những câu mà người đóng vai thẩm phán ban đầu đã đặt ra.

Tranh tụng tại Tòa án Tối cao rất khác so với những gì được mô tả trên tivi hoặc đăng tải trên báo chí. Trước khi tranh tụng, các luật sư lập hồ sơ tóm tắt vụ kiện, những lập luận chính thức bằng văn bản giải quyết các vấn đề trước Tòa án. Khi các luật sư tranh tụng, Tòa án đã có trong tay những bản tóm tắt hồ sơ, quan điểm của các tòa án cấp dưới về vụ kiện và hồ sơ tất cả lời khai và bằng chứng trước tòa. Các luật sư trình bày theo kiểu đàm thoại. Họ trình bày trước Tòa án các điều khoản hiến pháp, các bộ luật khác và nguồn gốc của chúng, các tiền lệ, các số liệu có liên quan đến vụ kiện, hệ quả của một phán quyết và nhiều vấn đề khác nữa. Trong tranh tụng không có sự quát tháo, hô khẩu hiệu, không được vẫy tay. Tất cả đều rất chừng mực, vừa phải và thường như vậy. Đôi khi một số luật sư vượt ra ngoài thông lệ và khuôn khổ mang tính kiềm chế này, tuy nhiên điều đó chỉ có hại cho họ mà thôi vì các thẩm phán có thể liên tục đưa ra các câu hỏi – rất nhiều câu hỏi – và ngắt lời các luật sư bằng cách hỏi nhiều hơn nữa.

Tôi không lo sợ. Tôi đã làm tất cả những gì có thể để chuẩn bị và nghĩ rằng tôi biết mọi điều cần biết cũng như mọi điều sắp xảy ra. Dù lo sợ là phản xạ trong một tình huống hay là đặc tính cá nhân đi nữa thì trong những tình huống khó khăn tôi không bao giờ lo sợ. Đó không phải là hiện tượng tốt mà xuất phát từ kinh nghiệm của tôi trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Tôi ở trên một con tàu chở dầu cưỡi con sóng đầu tiên cập bờ biển Iwo Jima. Có lẽ tôi đã phải lo sợ, nhưng không, tôi đã làm tất cả mọi thứ có thể để chuẩn bị.

Trong các buổi tranh tụng hầu hết các thẩm phán đều tỏ ra thân thiện với chúng tôi, nhưng họ cũng không ngừng chất vấn. Dễ có đến hàng trăm câu hỏi trước khi các buổi tranh tụng kết thúc. Như thường lệ, người hỏi nhiều nhất là Thẩm phán Felix Frankfurter, một cựu Giáo sư Luật. Các câu hỏi rất bao trùm từ vấn đề liệu theo thời gian ý nghĩa của sự bình đẳng có thay đổi không cho đến vấn đề liệu Tòa án có nên ra lệnh chấm dứt ngay hay từ từ chấm dứt tình trạng phân biệt chủng tộc hay không trong trường hợp Tòa án phán quyết ủng hộ chúng tôi. Từ khi những nguyên đơn ở Delaware được tiếp nhận vào các trường dành cho người da trắng, do sự bất bình đẳng trong trường học chứ không phải bởi tính bất hợp pháp của tình trạng phân biệt chủng tộc, tôi và Louis Redding luôn bị chất vấn tại sao chúng tôi lại theo đuổi một phán quyết về vấn đề phân biệt chủng tộc. Tôi đưa ra câu trả lời rõ ràng rằng tình trạng phân biệt chủng tộc vẫn có thể tái diễn khi các trường đã ngang bằng nhau. Lúc ấy, sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu trong những vụ kiện khác, ngoại trừ vụ ở Delaware, chúng ta thừa nhận phân biệt chủng tộc là trái với hiến pháp. (Như kết quả cho thấy, trong tất cả các vụ khác Tòa án thừa nhận phân biệt chủng tộc là trái với hiến pháp, kể cả vụ ở Delaware.) Khi phiên tranh tụng kết thúc tôi không thể nghĩ được bất cứ điều gì lẽ ra tôi đã phải nói hoặc làm mà tôi không thực hiện được.

PHE ĐỐI LẬP

Phe đối lập của chúng tôi do John W. Davis dẫn đầu, vào thời đó ông là luật sư hàng đầu của Tòa án Tối cao. Ông từng là ứng cử viên Tổng thống Mỹ của Đảng Dân chủ. Ông đã tranh tụng hàng trăm vụ ở Tòa án. Ông là giám đốc công ty luật mạnh nhất ở Mỹ. Ông đưa ra một lập luận cực kỳ xuất sắc. Nội dung cơ bản của lập luận này là mục tiêu của điều khoản bảo vệ bình đẳng trong Điều sửa đổi thứ 14 không phải là xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc ở trường học. Các cuộc tranh luận tại Quốc hội cũng không nhằm mục tiêu này. Quốc hội đã thông qua Điều bổ sung sửa đổi thứ 14 còn dành ngân quỹ để duy trì các trường học phân biệt chủng tộc ở Quận Columbia do liên bang kiểm soát. Ở một số bang miền Bắc đã phê chuẩn Điều bổ sung sửa đổi này cũng có các trường học phân biệt chủng tộc. Còn về tiền lệ, Davis lập luận rằng Tòa án đã nhiều lần chấp nhận chủ trương phân biệt-nhưng-bình đẳng. Trong vụ Gong Lum kiện Rice năm 1927, Tòa án đã thừa nhận tính hợp hiến của các trường phân biệt chủng tộc ở Mississippi. Tuy nhiên, Davis cũng phải đối mặt với thực tiễn là những khái niệm hợp hiến đã thay đổi. Như một trong số các thẩm phán đã chỉ ra, cái gì đó được cho là bình đẳng năm 1865 có thể sẽ không còn là bình đẳng vào năm 1952. Những tiền lệ mà Davis đưa ra không hợp lý và ông đã phải vất vả tìm ra sự khác biệt của những vụ án mới đây, những vụ đấu tranh chống tình trạng phân biệt chủng tộc ở các trường trung học và chuyên nghiệp vì giá trị giáo dục của việc học tập trong các lớp đa dạng chủng tộc.

Davis đã mắc một sai lầm lớn trong cách hùng biện. Ông đã kể lại câu chuyện ngụ ngôn của Aesop về một chú chó lội qua suối đã đánh rơi mẩu thịt vì tham lam muốn giành một miếng khác, chỉ để nói rằng đó là sự phản ánh nguồn gốc mà giờ đây đã mất. Davis nhắc nhở chúng tôi hãy bằng lòng với sự bình đẳng đã tồn tại hoặc sẽ tồn tại giữa các trường dành cho người da đen và da trắng và đừng vứt bỏ nó đi chỉ để giành được “danh dự”. Thurgood Marsall nắm ngay lấy câu chuyện ngụ ngôn này và lập luận mạnh mẽ rằng “danh dự” chính là điều đang bị đe doạ. Tình trạng phân biệt chủng tộc đã bêu xấu và đẩy người da đen ra ngoài lề. Sự bình đẳng yêu cầu bang phải cho họ danh dự giống như đã dành cho các công dân khác.

Sau phiên tranh tụng tất cả chúng tôi đều nghĩ mình đã thắng, nhưng không chắc liệu phán quyết của Tòa án có nhất trí không. Như hồ sơ phân tích của Tòa án hiện nay cho thấy, tất cả các thẩm phán đều cho rằng phân biệt chủng tộc là trái với hiến pháp. Tuy nhiên một số người do dự khi đưa ra phán quyết đó vì họ sợ rằng miền Nam sẽ phản kháng. Họ không muốn làm phương hại đến uy tín của Tòa án nếu đưa ra một phán quyết không thể thi hành được. Để giải quyết vấn đề này, Tòa án quyết định tách phán quyết về tính hợp hiến của vấn đề phân biệt chủng tộc ra khỏi vấn đề làm thế nào để thực hiện phán quyết đó. Năm 1954, Tòa án thừa nhận phân biệt chủng tộc là trái với hiến pháp. Năm 1955 Tòa án đưa ra những tiêu chuẩn theo đó các trường học phải xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc.

PHÁN QUYẾT

Thurgood Marsall được tiết lộ rằng – có thể từ văn phòng lục sự, nhưng sẽ không ai được biết – các vụ kiện sẽ được quyết định vào ngày 17/5/1954. Có thể là do sắp hết nhiệm kỳ của Tòa án nên ông thử vận may và đến tòa án ngày hôm đó. Thực vậy, đó chính là ngày đưa ra quyết định. Ông đã gọi tôi vào văn phòng và tôi thông báo cho các nhân viên khác. Thông thường mỗi khi thắng một vụ lớn chúng tôi sẽ tổ chức ăn mừng ở văn phòng. Nhưng vụ Brown quá phức tạp, khó khăn nên chúng tôi chỉ đứng hoặc ngồi xung quanh, hầu như chẳng nói hay làm gì cả. Lẽ dĩ nhiên hôm đó và cả những ngày sau nữa có rất nhiều cuộc họp báo.

Thực vậy, Tòa án đã nhất trí phán quyết phân biệt chủng tộc ở trường học là trái với hiến pháp. Trong văn bản giải thích phán quyết của tòa án, Chánh án Earl Warren cho rằng những lập luận lịch sử chưa thuyết phục, nhưng ông chấp nhận quan điểm của chúng tôi về những tiền lệ gần đây yêu cầu tiếp nhận người Mỹ gốc Phi vào học tại các trường cao học và chuyên nghiệp. Tòa án cũng nhấn mạnh tác hại của tình trạng phân biệt chủng tộc ở trường học như sau:

Việc phân biệt trẻ em da trắng và da màu ở các trường công là có hại đối với trẻ em da màu. Tác hại sẽ lớn hơn nếu thực tiễn này được luật pháp cho phép vì chính sách phân biệt chủng tộc thường biểu hiện sự thấp kém hơn của nhóm người da đen. Ý thức về sự thấp kém hơn ảnh hưởng tới động cơ học tập của trẻ em. Do vậy, phân biệt chủng tộc được pháp luật cho phép có xu hướng làm chậm sự phát triển trí tuệ và học hành của trẻ em da đen và tước đi một số lợi ích mà lẽ ra chúng sẽ được hưởng nếu học trong hệ thống trường lớp hợp nhất các chủng tộc.

Tuy nhiên ảnh hưởng của vụ Brown đã vượt ra khỏi phạm vi các trường công. Có thể nhanh chóng thấy rõ ảnh hưởng đó trong các vụ án liên quan đến những khía cạnh khác của cuộc sống khi Tòa án có xu hướng cấm tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc do các bang đặt ra.

Liệu miền Nam có tuân thủ lệnh của tòa án yêu cầu xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc ở trường học hay không cũng là một chủ đề nhỏ trong các phiên tranh tụng. Một số người dự đoán sẽ có phản ứng mạnh mẽ và thậm chí cả bạo lực. Thực vậy, có thể đã có một hoặc nhiều luật sư có quan điểm bất đồng vì sợ rằng kết cục đó sẽ làm phương hại tới uy tín và vị thế của Tòa án. Để tách vấn đề thực thi ra giải quyết riêng rẽ, Tòa án đã lên kế hoạch tổ chức phiên tranh tụng về cách thức xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc ở trường học. Vấn đề này đã được quyết định năm 1955 trong một văn bản giải thích phán quyết thường được gọi là Brown II. Trong Brown II, Tòa án cho rằng không nên lấy thái độ thù địch đối với việc xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc làm lý do để biện minh cho sự trì hoãn thực hiện, tuy nhiên các trường học có thể giành thời gian để tiến hành những thay đổi hành chính, chẳng hạn như tái phân công giáo viên và học sinh. Tòa án Brown II phán quyết rằng việc xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc ở trường học phải được tiến hành “một cách thận trọng”- những ngôn từ đó cho thấy Tòa án đã ý thức được những khó khăn này.

Người ta đã tranh cãi nhiều xung quanh việc liệu những người đối lập có lợi dụng những ngôn từ này để làm chậm tiến độ xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc hay không. Tôi nghĩ là không. Không một ngôn từ nào trong quyết định thực thi có thể ngăn cản được phản ứng mãnh liệt đối với vụ Brown của những bang nơi mà luật pháp đòi hỏi phải phân biệt chủng tộc. Lực lượng cưỡng chế thi hành phán quyết rất mỏng. Tất cả các nghị sĩ quốc hội và các thượng nghị sĩ người miền Nam, ngoại trừ ba người (Lyndon Johnson, Albert Gore Sr. và Estes Kefauver) đều ký vào tuyên bố của phe miền Nam trong Quốc hội kịch liệt phản đối Tòa án Tối cao. Mười một bang miền Nam thông qua các Nghị quyết Phản đối và Vô hiệu hóa (tương tự các nghị quyết họ đã thông qua thời kỳ đầu cuộc Nội Chiến). Một số bang miền Nam còn lập ra các ủy ban Chủ quyền bang, các cơ quan chính quyền chuyên trách đấu tranh chống lại việc xóa bỏ hình thức phân biệt chủng tộc. Alabama, Georgia, Louisiana, Mississippi, Bắc Carolina, Nam Carolina và Virginia đã thông qua các bộ luật yêu cầu các trường học đóng cửa nếu họ tiếp nhận trẻ em da đen. Arkansas hủy bỏ bộ luật bắt buộc phải đi học của bang này.

Một số bang có hành động pháp lý chống lại Hiệp hội Quốc gia vì sự Tiến bộ của người Da màu và Quỹ Bảo vệ pháp luật của NAACP nhằm hạn chế hoặc cản trở hoạt động của các tổ chức này. Thủ thuật này đã bị chặn đứng bởi hai quyết định quan trọng của Tòa án Tối cao. Các quan chức đoàn luật sư bang tiến hành các thủ tục khai trừ khỏi đoàn luật sư đối với các luật sư đấu tranh đòi dân quyền ở Virginia, Mississippi, Florida và những nơi khác, tuy nhiên những nỗ lực này thất bại vì bị chống trả mạnh mẽ. Các bang cố gắng ngăn chặn việc xóa bỏ hình thức phân biệt chủng tộc đã thông qua các đạo luật Bố trí hoặc Sắp xếp học sinh, yêu cầu trẻ em da đen nếu muốn thay đổi trường phải qua rất nhiều thủ tục hành chính phức tạp. Một số gia đình người da đen dũng cảm muốn xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc đã bị xâm phạm về thân thể, bị sa thải hoặc không được vay tín dụng để sản xuất ở trang trại hoặc kinh doanh, đây là những biện pháp nhằm đe dọa những người khác.

Hầu như không có lực lượng nào đấu tranh chống lại những cuộc tấn công này và xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc trong trường học. Trong một phần của cuộc đấu tranh xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc này, Delaware, Alabama và Louisiana mỗi bang chỉ có duy nhất một luật sư người da đen, còn các bang miền Nam khác chỉ có rất ít. Đây chính là hậu quả của lệnh cấm gần như hoàn toàn không cho người da đen có bằng tốt nghiệp hoặc chuyên nghiệp từ bất cứ một trường danh tiếng nào ở bất cứ đâu trên phạm vi miền Nam cho đến tận năm 1950. (Ngay cả sau vụ Brown, vào cuối những năm 1960, để người da đen được vào các trường đại học ở Mississippi, Georgia, Alabama và Nam Carolina người ta vẫn phải kiện tụng. Cho đến tận năm 1964 Bộ Tư pháp Mỹ vẫn không có thẩm quyền thực hiện việc xóa bỏ phân biệt chủng tộc ở trường học).

NHỮNG TÁC ĐỘNG SÂU RỘNG

Mặc dù vậy, Brown đã hoàn thành được mục tiêu tham vọng của mình. Mục tiêu này không chỉ là chấm dứt tình trạng phân biệt chủng tộc trong trường học mà còn “khuấy động tinh thần nổi dậy” trong dân chúng Mỹ gốc Phi như Nathan Margold đã nói. Nathan Margold là cựu Chánh án Mỹ. Năm 1931 ông đã tư vấn cho NAACP đấu tranh chống lại việc tài trợ ít ỏi cho các trường học dành cho người da đen, coi đó là sự vi phạm điều khoản bảo vệ bình đẳng trong Điều sửa đổi thứ 14. Vụ Brown giúp thúc đẩy phong trào đấu tranh đòi dân quyền: biểu tình ngồi (người da đen ngồi trong quầy ăn trưa chỉ dành phục vụ cho người da trắng và không chịu đứng dậy cho đến khi được phục vụ), Tự do trên xe (người da đen và da trắng ngồi trong khu vực cấm trên xe lửa và xe buýt, với người da đen được ngồi ở ghế trước dành cho người da trắng) và hàng loạt các cuộc biểu tình do Martin Luther King, Jr dẫn đầu.

Các tòa án hầu hết đều nhất trí bảo vệ người biểu tình. Biểu tình của quần chúng gắn bó mật thiết với những hành động pháp lý dẫn tới việc ban hành Đạo luật về dân quyền năm 1964 và những đạo luật tương tự vào giữa những năm 1960. Mặc dù vụ Brown không giải quyết được các vấn đề chủng tộc của đất nước song xét ở hầu hết các khía cạnh thì đó là một thành công lớn. Rất nhiều thay đổi có lợi về mặt xã hội phần nào xuất phát từ vụ Brown. Đạo luật về Quyền bầu cử năm 1965 dẫn đến kết quả là có 43 (ít hoặc nhiều hơn, tùy từng năm) thành viên người da đen trong Quốc hội. Rất nhiều thành phố lớn, nếu không muốn nói là hầu hết, hiện hoặc từng có thị trưởng là người da đen. Các địa điểm công cộng trên cả nước mở rộng cửa đón cả người da đen lẫn da trắng và tất cả mọi người đều được tự do lui tới. Một vài năm trước tôi ngồi trong một nhà hàng ở Memphis, Tennessee và quan sát một đôi vợ chồng khác màu da đang nắm tay nhau ở bàn bên cạnh. Nếu ở thời điểm trước khi Đạo luật Dân quyền năm 1964 làm thay đổi các khu công cộng thì người đàn ông da đen trẻ tuổi này sẽ bị sách nhiễu hoặc hành hung.

Việc làm bình đẳng ngày càng trở thành hiện thực. Giờ đây không còn tồn tại những công đoàn địa phương phân biệt theo chủng tộc. Đạo luật về nhà ở công bằng phần nào phát huy hiệu quả và sẽ hiệu quả hơn nếu người da đen không bị hạn chế bởi thu nhập. Có rất nhiều giám đốc điều hành người da đen tại các tập đoàn lớn của Mỹ như Time Warner, Xerox, Citibank, Merrill Lynch và American Express. Khi tôi bắt đầu hành nghề luật năm 1949, lúc đó có những bang chỉ có duy nhất một luật sư người da đen và đoàn luật sư người da đen rất nhỏ. Ở thời điểm ấy, không đâu ở miền Nam người da đen lại có thể có bằng sau đại học hoặc chuyên nghiệp từ một trường danh tiếng ở miền Nam ngoại trừ trường Đại học Howard ở Washington, D.C. và Trường Y Meharry ở Nashville, Tennessee. Ở miền Bắc, mặc dù không bị cấm chính thức nhưng cơ hội cho người da đen cũng rất hạn chế. Trong lớp học tại trường Luật Columbia năm 1948 của tôi không hề có sinh viên người Mỹ da đen nào, còn ở lớp học tại trường cao đẳng năm 1945 thì chỉ có duy nhất một người. Hiện nay có hơn 10.000 sinh viên luật là người da đen. Khoảng 17% người Mỹ gốc Phi có bằng cao đẳng.

Tất cả những điều đó không có nghĩa là giờ đây chúng ta đã đạt được sự bình đẳng toàn diện. Chỉ vài con số như những số liệu về thu nhập, sự giàu có, y tế và số người bị bỏ tù đã cho thấy, về nhiều phương diện, cuộc sống của những người da đen không bằng người da trắng. Tuy nhiên, vụ Brown tiếp tục là minh chứng cho quyết tâm của người Mỹ theo đuổi những lý tưởng trong Hiến pháp của chúng ta và khẳng định rằng Tòa án Tối cao của chúng ta có thể là chất xúc tác dẫn đến sự thay đổi cơ bản. Và dĩ nhiên là sự thay đổi lớn lao đó đã diễn ra.

Ý kiến nêu trong bài viết này là của tác giả.
Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 4/2005
Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ej0405_vi.html

TÒA ÁN TỐI CAO HOA KỲ: TÒA ÁN CAO NHẤT CỦA QUỐC GIA (Bài 4: Lệnh xét lại vụ án: Quyết định xem xét lại vụ án nào) Thứ Năm, Dec 11 2008 

Peter J. Messitte
Kể từ khi Hiến pháp Hoa Kỳ thiết lập ra Tòa án Tối cao, số lượng vụ án mà các thẩm phán phải xét xử đã tăng lên nhanh chóng. Nhằm đảm bảo rằng chỉ có các vấn đề pháp lý quan trọng nhất mới được Tòa án Tối cao xem xét, Quốc hội đã ngày càng trao nhiều quyền hơn cho Tòa trong việc xét lại các bản án đã được tuyên.

Thẩm phán Liên bang Peter J. Messitte giải thích cách Tòa án Tối cao sử dụng lệnh xét lại vụ án như thế nào để kiểm soát được số lượng vụ án cần kháng án và quyết định xem vụ nào cần phải xử lại.

Điều III, Mục 2 Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép Tòa án Tối cao có quyền xét xử sơ thẩm như một tòa án xét xử thông thường – nhưng Tòa án Tối cao chỉ được xét xử một số ít các vụ, chẳng hạn như những vụ án liên quan đến tranh chấp biên giới giữa các bang. Chức năng cơ bản của Tòa án Tối cao là xem xét lại các phán quyết của các tòa án cấp thấp hơn về các vấn đề liên quan đến hiến pháp và luật liên bang. Hiến pháp cho phép Quốc hội kiểm tra hoạt động kháng án này. Khi mới được thành lập, Tòa án Tối cao phải nghe và phán quyết tất cả các bản kháng án lên Tòa, nhưng việc này ngày càng trở nên khó khăn do số vụ án tăng lên nhiều. Sau một thời gian, Tòa án Tối cao đưa ra cách quản lý tốt hơn đối với số vụ kháng án bằng cách quy định về số lượng vụ án được xét xử lại và cách chọn vụ án để xét lại.

Với Đạo luật về Tòa án năm 1891, Quốc hội lần đầu tiên cho phép Tòa án Tối cao được chấp nhận hay từ chối một số vụ kháng án trên cơ sở tùy ý. Đạo luật này cho phép sử dụng lệnh xét lại vụ án (hay còn gọi là “cert”, theo tiếng Latinh nghĩa là “sẽ được thông báo”) theo đó Tòa án Tối cao ra lệnh cho Tòa án cấp dưới phải chứng thực và gửi kết luận của một vụ án cụ thể để xem xét lại. Biện pháp này đã xử lý được khó khăn trong một khoảng thời gian, nhưng trong vòng 30 năm Tòa án Tối cao một lần nữa lại bị gánh nặng của rất nhiều vụ kháng án bắt buộc, tại mỗi vụ kháng án, thẩm phán phải nghiên cứu sơ qua, nghe tranh luận và đưa ra ý kiến bằng văn bản. Theo lời một thẩm phán, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến thời gian Tòa án Tối cao dành cho “nghiên cứu, nhận xét, thảo luận một cách đầy đủ và đưa ra được những ý kiến sâu sắc và uyên bác”.

Do đó, một lần nữa Quốc hội lại giảm đáng kể lượng các kháng án bắt buộc trong sổ hồ sơ vụ án của Tòa án Tối cao. Trong Đạo luật Tòa án năm 1925, Quốc hội ngay lập tức mở rộng quyền của Tòa án Tối cao yêu cầu xét lại vụ án do tòa cấp dưới xử và vì vậy cho phép Tòa án Tối cao quyền hạn lớn hơn trong việc kiểm soát khối lượng công việc của mình. Năm 1988, Quốc hội giảm số vụ án buộc phải xét lại của Tòa án Tối cao nhiều hơn nữa và từ đó đến nay thực chất Tòa án Tối cao tùy ý xét lại các vụ án do Tòa cấp dưới tuyên. Ngày nay, bằng cách sử dụng lệnh xét lại vụ án, Tòa án Tối cao chỉ xem xét các vụ “quan trọng một cách đặc biệt và mang ý nghĩa chung” liên quan tới các nguyên tắc đảm bảo lợi ích của đa số công chúng hoặc của chính phủ.

Bao nhiêu đơn xin xét lại vụ án được nộp lên hàng năm và bao nhiêu đơn được chấp nhận?

Trong các kỳ gần đây (một kỳ bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 6), những người đã đệ đơn và nộp phí tương ứng với khoảng 1.825 đơn. Trong tổng số đơn này thì trung bình có khoảng 80 đơn, khoảng gần 4%, được chấp nhận. Cùng lúc, hơn 6.000 đơn của người nghèo (những người không có tiền trả phí nộp đơn, chủ yếu là tù nhân) đã được nộp lên. Trung bình thì hàng năm chỉ có năm đơn loại này được chấp nhận.

Bằng cách ban hành lệnh, Tòa án Tối cao bổ sung thêm một vụ án vào trong sổ ghi án của mình. Thông lệ là cho tranh tụng và ra phán quyết về vụ án đó trong cùng một kỳ, mặc dù thường có đến 40 vụ phải chuyển sang kỳ sau.

TIÊU CHÍ ĐỂ BAN HÀNH LỆNH XÉT LẠI VỤ ÁN LÀ GÌ?

Do Tòa án Tối cao không có khả năng xét xử lại nhiều hơn số vụ án tương ứng với số lệnh xem xét lại vụ án ban hành ra nên chúng ta không hề ngạc nhiên khi thấy rằng các thẩm phán chỉ chấp nhận xem xét lại những vụ gây ra tranh cãi đặc biệt lớn về mặt pháp lý và/hoặc những vụ mà các cơ quan pháp luật không thể thống nhất được với nhau và trong vụ án đó các Tòa án cấp dưới đã đưa ra những diễn giải trái ngược nhau về điều khoản của Hiến pháp hay Luật Liên bang. Trong những trường hợp như vậy, Tòa án Tối cao có thể đưa ra lệnh xem xét lại vụ án nhằm mục đích đưa ra cách hiểu thống nhất trong cả nước. Tòa án Tối cao cần phải chấp nhận một số rất ít kháng cáo chủ yếu dựa trên những sai sót được viện dẫn ra trong quá trình tìm hiểu sự việc của phiên tòa xét xử trước đó hay việc áp dụng sai lệch những nguyên tắc luật pháp được nêu ra một cách chính xác; việc xem xét lại những vấn đế này tại tòa án cấp bang hay liên bang thường đã mang tính chung thẩm.

Ai có thể nộp đơn xin kháng cáo bằng cách ban hành lệnh xét lại vụ án và làm thế nào để có được lệnh này?

Bất cứ bên nào trong một vụ kiện dân sự hay hình sự không cảm thấy hài lòng với phán quyết cuối cùng của Tòa Phúc thẩm Liên bang hay tòa cấp cao nhất của bang đều có thể nộp đơn xin kháng án lên Tòa án Tối cao. Trừ trường hợp người kháng cáo chứng minh được mình đủ tiêu chuẩn kháng cáo dành cho người nghèo (nghĩa là không có khả năng thanh toán), thì người kháng cáo phải nộp 40 bộ hồ sơ theo đúng mẫu kháng cáo và trả phí nộp hồ sơ (hiện nay là 300 đô-la Mỹ). Bên bị có thể, nhưng không bắt buộc, gửi một bản tóm tắt phản đối việc kháng cáo trong đó lập luận rằng Tòa án Tối cao không nên ban hành lệnh xét lại vụ án và người kháng cáo được phép nộp một bản trả lời tóm tắt cho việc phản đối đó. Quy định của Tòa án Tối cao nêu rõ trình tự tố tụng và thứ tự thời gian được áp dụng.

Chúng ta có thể bàn nhiều về điều gì khiến cho người kháng cáo cố nhận được lệnh xét lại vụ án hay theo như các luật sư nói là “đáng tin vào lệnh xét lại vụ án”. Có lẽ điểm đáng quan tâm nhất là liệu người kháng cáo có lập luận được hay không và lập luận ra sao về giá trị vụ án mà anh ta kháng cáo. Đương nhiên một phần của bản kháng cáo phải làm việc này, nhưng một lần nữa điều thể hiện ra đầu tiên là liệu có sự tranh cãi của các cơ quan pháp luật về các vấn đề pháp lý trong vụ án đó hay không và/hoặc tại sao vụ án này ảnh hưởng tới lợi ích công cộng khi các vấn đề được phán quyết.

CÁC ĐIỂM CẦN CÂN NHẮC

Còn có một vài điểm cần cân nhắc trước khi xem xét xem điều gì sẽ xảy ra với các đơn kháng cáo sau khi đơn được nộp.

Bản lưu vụ kiện ở tòa án cấp dưới, tòa án ra phán quyết bị kháng cáo, thì sao? Trong các vụ kháng cáo từ tòa xét xử lên tòa phúc thẩm trung cấp, thường thì người kháng cáo nộp toàn bộ văn bản vụ kiện ở tòa cấp dưới. Điều này là hiểu được bởi việc xét xử lại vụ án thể hiện cơ hội của bên thua kiện đòi tìm ra được lỗi của tòa xét xử. Do Tòa án Tối cao chỉ quan tâm tới việc lựa chọn các vụ kiện đòi hỏi nhiều sự diễn giải về luật nên người kháng cáo không cần- trên thực tế là không thể- nộp các bản lưu cùng với đơn kháng cáo, trừ trường hợp đính kèm một bản ghi ý kiến phán quyết của tòa cấp dưới. Tuy nhiên Tòa án Tối cao có toàn quyền yêu cầu bản lưu và luật sư có thể gửi kèm hay đưa ra phần thích hợp của bản lưu trong đơn kháng cáo.

Một mục khác nữa cũng đáng lưu ý là bản tóm tắt được gọi là “bạn của tòa” (amicus curiae). Bản kháng cáo có thể do cá nhân nộp, nhưng thường là do các tổ chức nộp cho nên điều này dẫn đến việc những vấn đề Tòa án Tối cao quan tâm có thể không do các bên có liên quan đến quyết định ban hành lệnh xem xét lại bản án nêu lên. Bản tóm tắt amicus curiae có thể cho phép Tòa án Tối cao lựa chọn được những vụ có liên quan nhiều nhất, những vụ án mà tầm quan trọng pháp lý của nó vượt quá cả sự quan tâm của người kháng cáo. Tòa án Tối cao nói rằng những bản tóm tắt kiểu này “có thể giúp được nhiều”, nhưng những bản chỉ đơn thuần nhắc lại lập luận của các bên sẽ chỉ là “gánh nặng” và “không được ủng hộ”. Ví dụ về lợi ích của bản tóm tắt amicus curiae chúng ta có thể thấy trong vụ New Mexico kiện Reed, một vụ án năm 1998 liên quan tới trách nhiệm của một bang trong việc chấp nhận yêu cầu dẫn độ của một bang khác. Trong vụ kiện đó, bản tóm tắt amicus curiae do 40 bang nộp lên và đưa ra những lập luận thực tế cho việc ban hành lệnh xem xét lại vụ án và đảo ngược lại được phán quyết của Tòa án Tối cao cấp bang.

Một khi Tòa án Tối cao đã nhận được đơn kháng cáo và ý kiến phản đối hay bản tóm tắt amicus curiae thì điều gì sẽ xảy ra?

Trước năm 1925, từng người trong số chín thẩm phán sẽ phải xem xét bản kháng cáo và đưa ra biên bản ghi nhớ nêu rõ ý kiến của mình về việc này. Với việc mở rộng quyền xem xét lại bản án của Tòa án Tối cao và do đó dẫn tới việc số lượng đơn kháng cáo tăng lên (từ 300 đến 400 đơn mỗi kỳ tăng lên đến gấp bốn hay năm lần), việc xem xét này trở nên quá khó khăn nếu không muốn nói là không thể. Do vậy, trừ một vài ngoại lệ, không còn việc tất cả các thẩm phán xem xét lại từng đơn kháng cáo. Thay vào đó, nhiệm vụ đọc hàng trăm đơn kháng cáo mỗi tuần được giao cho thư ký pháp luật của các thẩm phán (mỗi thẩm phán có bốn thư lý pháp luật, còn riêng Chánh án có năm thư ký). Những thư ký này làm việc theo nhóm và họ sẽ chia các vụ án ra và đưa ra biên bản ghi nhớ cho từng vụ án. Các biên bản này được phát cho tất cả các thẩm phán và là bản tóm tắt các sự kiện, phán quyết của Tòa cấp dưới và phần tranh luận của các bên. Biên bản này cũng gồm cả khuyến nghị của các thư ký pháp luật về việc liệu các thẩm phán có nên ban hành lệnh xem xét lại hay không. Đương nhiên là các thẩm phán cuối cùng sẽ đưa ra phán quyết của riêng mình về từng vụ án. Như thẩm phán Byron White đã từng nhận xét, công việc này “không nặng nề như người ta tưởng”. Người ta ước tính rằng hơn 60% các đơn kháng cáo đã nộp lệ phí và hơn 90% đơn kháng cáo của người nghèo là “hoàn toàn không có giá trị khi xem xét lại”.

CÁC VỤ ÁN CẦN TRANH LUẬN

Một phương sách khác nhằm tập trung sự chú ý của các thẩm phán vào những vụ đáng xem xét lại nhất là “danh sách tranh luận”. Danh sách này do Chánh án soạn thảo và lưu hành, trong danh sách này nêu ra các vụ án mà bất cứ thẩm phán nào cũng cho là đáng tranh luận tại hội nghị thẩm phán. Danh sách này không bao giờ được tiết lộ cho công chúng biết.

Luật sư không được phép tranh cãi miệng hay bằng bất cứ hình thức nào liên hệ với một thẩm phán nhằm cố gắng thuyết phục ủng hộ hay phản đối một đơn xin kháng cáo. Thông thường thì hành động kháng cáo kéo dài trong tám tuần cho dù không có hạn chót cụ thể nào được đưa ra.

Điều gì diễn ra tại Hội nghị Tòa án Tối cao?

Thông lệ là Tòa án Tối cao sẽ xem xét các đơn kháng cáo trong danh sách tranh luận tại hội nghị vào thứ sáu hàng tuần và quyết định sẽ được công bố vào thứ hai tuần kế tiếp, trừ khi việc xem xét đơn kháng cáo bị hoãn sang hội nghị lần sau. Chỉ có các thẩm phán tham dự hội nghị này. Không một thư ký luật pháp, thư ký, băng ghi âm hay những thứ tương tự được phép có mặt.

Các thẩm phán làm việc theo nguyên tắc được gọi là “Nguyên tắc Bốn”; có nghĩa là lệnh xem xét lại vụ án sẽ được ban hành khi ít nhất bốn trong số chín thẩm phán tán thành. Đây không phải là nguyên tắc được ghi vào văn bản mà là một truyền thống lâu đời. Do đó, lệnh xem xét lại vụ án bị từ chối ngay cả khi có ba thẩm phán ủng hộ. Triết lý ở đây là nếu “một thiểu số lớn” cho rằng cần phải xem xét lại và đưa ra phán quyết đối với vụ án thì Tòa án Tối cao nên xem xét đến giá trị của vụ án và đưa ra phán quyết (chứ không nhất thiết phải chắc chắn có đa số thẩm phán ủng hộ).

Tòa án Tối cao thường không đưa ra nguyên nhân ban hành lệnh xem xét lại vụ án, mặc dù Tòa có thể tuyên bố rằng chỉ xem xét lại khi đơn kháng cáo đưa ra những vấn đề nhất định hay chỉ khi các vấn đề do Tòa án Tối cao đưa ra dựa trên bản kháng cáo. Tòa cũng thường không đưa ra lý do từ chối xem xét lại. Lý do có thể là lý lẽ chuyên môn quá hạn chế, không đúng hạn, kháng cáo một phán quyết chưa có tính chung thẩm, hay sự tồn tại các lập luận đầy đủ và độc lập của bang đã biện minh đầy đủ cho phán quyết của Tòa cấp dưới. Lý do cũng có thể là vụ án liên quan đến một vấn đề luật pháp đã được giải quyết, nhưng Tòa cấp dưới đã trích dẫn hay áp dụng nhầm luật. Chỉ với những lý do này, Tòa án Tối cao đã từ chối rất nhiều trường hợp mà vụ án không hề có tính quan trọng. Từ chối đơn giản nghĩa là Tòa không nhận xử lại vụ án. Từ chối không có nghĩa là Tòa án Tối cao chấp nhận phán quyết của Tòa cấp dưới, cho dù thậm chí hậu quả là phán quyết của Tòa cấp dưới vẫn sẽ có hiệu lực.

Tuy nhiên đúng là đôi khi thẩm phán sẽ công khai lưu lại những ý kiến bất đồng của mình đối với quyết định từ chối xem xét lại vụ án của Tòa án Tối cao. Điều này có thể chỉ đơn giản là việc ghi lại ý kiến bất đồng hay nó có thể ở dưới một dạng ý kiến phức tạp hơn. Chúng ta có thể thấy rằng những ý kiến bất đồng này không thể hiện rõ lắm việc vụ án được phán quyết như thế nào cũng như việc tại sao các vấn đề lại không đủ quan trọng để ban hành lệnh xem xét lại và vì thế tại sao phán quyết của Tòa cấp dưới lại nên được xét lại. Ý kiến bất đồng này có thể cho thấy trong tương lai thẩm phán có ý kiến bất đồng này dễ thông cảm với các yêu sách nêu ra trong đơn kháng cáo.

Nếu Tòa án Tối cao ban hành lệnh xem xét lại vụ án thì thư ký Tòa sẽ chuẩn bị và ký lệnh theo kết quả đó và thông báo cho luật sư và Tòa có phán quyết bị xem xét lại. Nếu bản lưu ở Tòa cấp dưới chưa được nộp lên Tòa án Tối cao thì thư ký Tòa án Tối cao sẽ yêu cầu thư ký Tòa cấp dưới chứng thực và chuyển đến.

Quan điểm nêu trong bài viết này là của tác giả.

Tư liệu dịch: Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 4/2005
Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/

TÒA ÁN TỐI CAO HOA KỲ: TÒA ÁN CAO NHẤT CỦA QUỐC GIA (Bài 3: Tôi trân trọng xin thề) Thứ Năm, Dec 11 2008 

Quan điểm lịch sử về việc đề cử, phê chuẩn và bổ nhiệm thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ
Robert S. Barker
Việc bổ nhiệm một thẩm phán Tòa án Tối cao liên quan đến những cân nhắc về mặt nhân thân, chính trị và pháp lý. Một luật gia đã đưa ra những nhân tố ảnh hưởng tới việc Tổng thống chọn ứng cử viên cho chức vụ thẩm phán và việc Thượng viện phê chuẩn- hay phủ quyết- ứng cử viên. Mặc dù là Tổng thống và Thượng viện đều cố gắng bổ nhiệm các thẩm phán có cùng quan điểm chính trị, nhưng từ trước đến nay các thẩm phán Tòa án Tối cao đều thể hiện sự độc lập đối với các cơ quan của Chính phủ và người Mỹ không muốn thay đổi điều này.

Robert S. Barker là Giáo sư Luật nổi tiếng của trường Đại học Luật Duquesne ở Thành phố Pittsburgh bang Pennsylvania. Ông là Chủ tịch Ủy ban Luật Hiến pháp của Hội Luật gia Hoa Kỳ trong 12 năm và ông đã dạy Luật Hiến pháp tại trường Đại học Tổng hợp Buenos Aires, Ac-hen-ti-na với tư cách học giả chương trình Fulbright và ông là tác giả cuốn sách La Constitución de los Estados Unidos y su dinámica actual (dự kiến sẽ xuất bản trong năm 2005).

Vào năm 1791, khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ mới được thành lập chưa đầy hai năm, thì một trong những thẩm phán đầu tiên, John Rutledge, đã từ chức thẩm phán Tòa án Tối cao để trở thành Chánh án Tòa án bang quê hương ông, bang Nam Carolina. Bốn năm sau, Chánh án Tòa án Tối cao đầu tiên, John Lay, đã từ chức thẩm phán để trở thành Thống đốc bang New York, bang quê hương ông. Vào năm 1800, khi Tổng thống John Adams đề nghị Jay trở lại làm thẩm phán Tòa án Tối cao và tái đề cử ông làm Chánh án thì Jay đã từ chối và điều này cho thấy Tòa án Tối cao thiếu “sinh lực, tầm quan trọng và giá trị”. Trên thực tế, trong 10 năm hoạt động đầu tiên (1790-1800) thì đã có năm trong tổng số 12 thẩm phán đầu tiên của Tòa án Tối cao từ chức, trong khi ba người được đề cử khác (kể cả trường hợp của Jay năm 1800) từ chối không nhận lời làm thẩm phán Tòa án Tối cao hay từ chối giữ chức Chánh án. Dù một hoặc hai trong số trường hợp từ chức hay từ chối là do những lý do cá nhân, hầu hết các trường hợp đều cho ta thấy rằng, đúng như Jay đã nói, Tòa án Tối cao thiếu “sinh lực, tầm quan trọng và giá trị”.

Ngay sau đó, quan điểm này đã thay đổi khi ảnh hưởng của Tòa án Tối cao ngày càng gia tăng. Phán quyết quan trọng của Tòa năm 1803 trong vụ Marbury kiện Madison, khởi đầu cho việc “xem xét lại theo thủ tục tư pháp” (có nghĩa là quyền của thẩm phán từ chối áp dụng các điều luật mà bản thân thẩm phán cho là trái với Hiến pháp) và khả năng rõ rệt của Tòa án Tối cao trong việc giữ tính độc lập với các cơ quan của Chính phủ, đã đem lại uy tín và thẩm quyền lớn cho Tòa án Tối cao trong nền chính trị và luật pháp Hoa Kỳ.

CHỌN LỰA THẨM PHÁN

Do bản thân Tòa án Tối cao rất quan trọng nên quá trình lựa chọn các thẩm phán của Tòa rõ ràng là rất quan trọng. Điều III, Mục 1 của Hiến pháp giao quyền tư pháp của chính phủ quốc gia (hay chính phủ liên bang) cho “một Tòa án Tối cao và vào các tòa án cấp dưới do Quốc hội đôi khi thành lập”, quy định rằng các thẩm phán Tòa án Tối cao (cũng như các thẩm phán Tòa án Liên bang) sẽ có nhiệm kỳ cả đời nếu làm việc tốt và đảm bảo rằng lương của họ sẽ không bị cắt giảm trong suốt thời gian họ tại vị. Điều II, Mục 2 quy định rằng Tổng thống Hoa Kỳ “…sẽ đề cử và theo sự khuyến cáo và với sự chấp thuận của Thượng viện, sẽ bổ nhiệm … làm thẩm phán Tòa án Tối cao…”.

Alexander Hamilton, một thành viên có ảnh hưởng tới Hội nghị Lập hiến năm 1787, đã giải thích sự sáng suốt trong thủ tục bổ nhiệm này trong tờ Người Liên bang số 77 như sau:

Về sự nhất trí của Thượng viện với Tổng thống, trong điều khoản bổ nhiệm, đôi khi người ta thừa nhận rằng cho Tổng thống quyền gây ảnh hưởng với Thượng viện lại có lợi, còn trong vài trường hợp thì lại dẫn đến xu hướng phản đối, một minh chứng cho thấy cả hai cách đều không ổn.

Từ năm 1789 khi Tổng thống George Washington đưa ra thủ tục bổ nhiệm này thì các Tổng thống đã đề cử tất cả 148 người làm thẩm phán Tòa án Tối cao. Trong số đó thì sáu người được đề cử đã từ chối, 12 người bị Thượng viện từ chối, chín trường hợp Tổng thống rút lại đề cử (thường là do Thượng viện phản đối) và năm trường hợp Thượng viện trì hoãn bỏ phiếu (và do vậy thời cơ trôi qua mất). Như vậy là trong lịch sử thì khoảng bốn phần năm số lần đề cử của Tổng thống đã thành công.

Những người đạt tiêu chuẩn gì thì được đề cử và bổ nhiệm? Và tại sao khoảng 20% số lần đề cử lại không thành công? Việc đề cử ai liên quan đến sự cân nhắc về mặt pháp lý, chính trị và nhân thân không lần nào giống lần nào; tuy nhiên vẫn có những nét chung. Trước tiên, những người được đề cử làm thẩm phán Tòa án Tối cao đều là các luật sư. Mặc dù Hiến pháp không quy định điều này, nhưng ai cũng tự hiểu rằng những người có nhiệm vụ chính là giải thích và áp dụng luật thì phải được đào tạo về luật. Thứ hai, những người được đề cử thường là đồng minh của Tổng thống, là thành viên quan trọng trong đảng của Tổng thống hay là luật gia đồng tình với quan điểm của Tổng thống về các vấn đề pháp lý chủ chốt hiện hành. Chính vì vậy mà chẳng hạn như Roger Brooke Taney, một nhân vật hàng đầu trong phe của Tổng thống Andrew Jackson chống lại việc thành lập Ngân hàng Nhà nước Hoa Kỳ, đã được Tổng thống Jackson bổ nhiệm làm Chánh án Tòa án Tối cao vào năm 1836; và Abe Fortas, cố vấn thân cận của Tổng thống Lyndon Johnson, đã được bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa án Tối cao vào năm 1965.

Nhiều thẩm phán được bổ nhiệm trước đó đã là những nhân vật chính trị quan trọng trong đảng của họ: Salmon P. Chase được Abraham Lincoln bổ nhiệm làm Chánh án năm 1863 vốn đã từng là Thống đốc bang Ohio; Charles Evans Hughes, người đầu tiên được William Howard Taft bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa án Tối cao năm 1910 khi đang giữ chức Thống đốc bang New York; người đầu tiên được Franklin D. Roosevelt bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa án Tối cao (năm 1937) là Thượng Nghị sỹ Hugo L. Black của bang Alabama và người được bổ nhiệm sau đó, Frank Murphy, vốn đã từng là Thống đốc bang Michigan. Earl Warren đang làm Thống đốc bang California thì được Dwight Eisenhower đề cử làm Chánh án Tòa án Tối cao vào năm 1954. Nổi tiếng nhất là trường hợp Tổng thống Warren G. Harding năm 1921 đã đề cử cựu Tổng thống Taft làm Chánh án Tòa án Tối cao.

Đôi khi các Tổng thống cũng bổ nhiệm thành viên của đảng đối lập. Như Tổng thống Lincoln thuộc Đảng Cộng hòa đã bổ nhiệm Stephen J. Field, một thành viên chủ chốt của Đảng Dân chủ, làm thẩm phán Tòa án Tối cao vào năm 1863. Năm 1940, Tổng thống Franklin Roosevelt đã thăng chức cho thẩm phán Harlan Fiske Stone, đảng viên Đảng Cộng hòa, lên làm Chánh án. Năm 1945, Tổng thống Harry Truman, người của Đảng Dân chủ, đã bổ nhiệm Thượng Nghị sỹ Harold H. Burton của bang Ohio, người thuộc Đảng Cộng hòa. Năm 1956, ba tuần trước khi diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống, Tổng thống Eisenhower đã bổ nhiệm William J. Brennan thuộc Đảng Dân chủ. Còn có những ví dụ khác nữa về việc này nhưng dù sao thì đó cũng chỉ là những cuộc bổ nhiệm mang tính chính trị khi các Tổng thống phải tính toán để dành được đa số phiếu cử tri hay sự ủng hộ của Quốc hội.

Thông lệ bổ nhiệm các chính trị gia hàng đầu làm thẩm phán Tòa án Tối cao đã giảm mạnh trong nửa thế kỷ qua. Các Tổng thống gần đây có xu hướng đề cử những người đang làm thẩm phán. Trong số chín thẩm phán Tòa án Tối cao hiện nay, sáu người (John Paul Stevens, Antonin Scalia, Anthony M. Kennedy, Clarence Thomas, Ruth Bader Ginsburg và Stephen G. Breyer) đang là thẩm phán Tòa phúc thẩm liên bang khi được đề cử và hai người (Sandra Day O’Connor và David H. Souter) đang là thẩm phán Tòa phúc thẩm bang. Hiện nay vị thế chính trị của người được đề cử không quan trọng bằng sự tương hợp về tư duy với Tổng thống.

SỰ PHÊ CHUẨN CỦA THƯỢNG VIỆN

Hiến pháp không đưa ra tiêu chuẩn để Thượng viện thông qua hay phủ quyết một ứng cử viên; vì vậy các Thượng Nghị sỹ được tự do đưa ra tiêu chuẩn của mình. Người được đề cử bị Thượng viện phủ quyết đầu tiên là John Rutledge vào năm 1795. Rutledge vốn trước đó đã là thẩm phán Tòa án Tối cao nhưng đã từ chức năm 1791. Bốn năm sau khi Tổng thống Washington đề cử ông làm Chánh án Tòa án Tối cao thì nhiều Thượng Nghị sỹ đã phản đối do ông đã chỉ trích mạnh mẽ một hiệp ước gây nhiều tranh cãi ký kết với Anh năm 1794. Những người được đề cử khác không được phê chuẩn do một vài nguyên nhân: Alexander Wolcott bị phủ quyết năm 1811 do sự chống đối của cả hai đảng và cả hai đảng đều nghi ngờ về khả năng của ông. Vào năm 1844 và 1845, Tổng thống John Tyler đã sáu lần đề cử người vào vị trí bị khuyết trong Tòa án Tối cao và năm trong số sáu lần đề cử đó đều không thành công. Tổng thống Tyler là người thuộc Đảng Dân chủ được bầu làm Phó Tổng thống bằng phiếu của Đảng Whig và kế thừa chức vụ Tổng thống sau khi Tổng thống William Henry Harrison qua đời. Ông đã không giành được sự ủng hộ mạnh mẽ của cả hai đảng nhằm đảm bảo Thượng viện sẽ ủng hộ ông. Những người được đề cử khác, chẳng hạn như Ebenezer Hoar năm 1870 và Wheeler H. Peckham năm 1894, đã bị phủ quyết do sự phản đối của họ đối với yêu cầu ủng hộ về mặt chính trị đã gây thù oán đối với các Thượng Nghị sỹ có ảnh hưởng. Vào năm 1930, Thượng viện đã phủ quyết ứng cử viên John J. Parker của Tổng thống Herbert Hoover với cáo buộc rằng ông này chống lại giới lao động. Trong năm 1969 và 1970, Thượng viện đã phủ quyết hai ứng cử viên của Tổng thống Richard Nixon do những chỉ trích về trình độ cá nhân và quan điểm triết học của hai ông này. Việc phủ quyết ứng cử viên Robert H. Bork của Tổng thống Ronald Reagan năm 1987 được các đảng nhất trí cho rằng là do những thắc mắc về trình độ tư pháp của ông ta. Tóm lại, các ứng cử viên bị phủ quyết do hàng loạt các nguyên nhân như đảng phái, nhân thân và trình độ.

Hiến pháp không quy định về số thẩm phán của Tòa án Tối cao; số lượng thẩm phán luôn được quy định trong đạo luật liên bang. Lúc đầu Quốc hội cố định số lượng thẩm phán là sáu người. Kể từ đó đến nay đã có vài lần thay đổi về số lượng thẩm phán, ít nhất là năm và nhiều nhất là 10 người. Thường thì số lượng thẩm phán của Tòa án Tối cao được căn cứ trên trình độ xét xử; nhưng có một lần đáng lưu ý là do động lực chính trị. Vào năm 1866, Quốc hội quy định rằng số lượng thẩm phán phải bị cắt giảm từ 10 xuống còn bảy nhằm ngăn không cho Tổng thống Andrew Johnson được bổ nhiệm thêm thẩm phán Tòa án Tối cao nào nữa. Vào năm 1869, sau khi Tổng thống Johnson hết nhiệm kỳ thì số lượng thẩm phán lại được tăng lên chín người và giữ nguyên ở mức này từ đó đến nay.

SỰ ĐỘC LẬP CỦA NGÀNH TƯ PHÁP

Mặc dù những xung đột nêu ra ở trên cho chúng ta thấy khía cạnh chính trị trong việc bổ nhiệm các thẩm phán Tòa án Tối cao nhưng hai hiện tượng khác còn cho chúng ta thấy thực tế sâu sắc và quan trọng hơn: trước tiên là cho dù được bổ nhiệm trong hoàn cảnh nào nhưng một khi đã nhậm chức thì các thẩm phán Tòa án Tối cao phải luôn tỏ rõ tính độc lập đối với các cơ quan của chính phủ, bao gồm cả việc độc lập với chính Tổng thống đã bổ nhiệm họ. Chẳng hạn như vào năm 1902, Tổng thống Theodore Roosevelt đã bổ nhiệm Oliver Wendell Holmes, Jr. vào Tòa án Tối cao. Gần hai năm sau, trong một vụ án chống độc quyền có vai trò hết sức quan trọng đối với chương trình của Roosevelt, Holmes đã bỏ phiếu chống lại Tổng thống. Vào năm 1952, khi hành động tịch thu các nhà máy thép lớn ở Mỹ của Tổng thống Truman được đưa ra xem xét có hợp hiến hay không thì Tòa án Tối cao đã ra phán quyết chống lại Tổng thống với sáu phiếu thuận và ba phiếu chống. Trong số bốn thẩm phán do đích thân Truman bổ nhiệm thì hai người đã bỏ phiếu chống lại ông. Earl Warren, người được Eisenhower bổ nhiệm làm Chánh án Tòa án Tối cao, đã thường xuyên bỏ phiếu chống lại Tổng thống nhiều đến nỗi khi hết nhiệm kỳ Eisenhower đã nói rằng việc bổ nhiệm Warren là “lỗi lầm ngớ ngẩn tệ hại nhất khi tôi làm Tổng thống”. Vào năm 1974, trong vụ Hoa Kỳ kiện Nixon- vụ án liên quan đến việc Tổng thống Nixon từ chối không trao các cuốn băng của Nhà Trắng theo lệnh của Tòa với lý do đặc quyền hành pháp – ba trong bốn thẩm phán do Nixon bổ nhiệm đã bỏ phiếu chống lại ông ta, còn người thứ tư đã giải cứu cho Nixon.

Hiện tượng thứ hai – liên quan chặt chẽ tới hiện tượng thứ nhất – về tầm quan trọng của hiệu lực cao nhất của các phán quyết Tòa án Tối cao là nhân dân Mỹ mong đợi và yêu cầu Tòa án Tối cao phải độc lập với các cơ quan chính trị của chính phủ. Vào năm 1805, phe đa số của Tổng thống Jefferson tại Hạ viện, với mục đích hạ bệ cơ quan tư pháp liên bang (lúc bấy giờ do các thẩm phán theo chủ trương thành lập liên bang chi phối) đã tiến hành luận tội Thẩm phán Tòa án Tối cao Samuel Chase. Theo Hiến pháp, vấn đề này sau đó được tiến hành xét xử tại Thượng viện, nơi những người thuộc phe Jefferson chiếm đa số với tỷ lệ 25-9, nhiều hơn tỷ lệ cần thiết là 2/3 để sa thải một quan chức bị luận tội. Tuy nhiên, một số người theo phe Jefferson đã bỏ phiếu ủng hộ Chase và số phiếu này đủ để Chase không bị sa thải. Không còn bất cứ thẩm phán Tòa án Tối cao nào khác bị luận tội và vấn đề gây tranh cãi trong vụ Chase là bằng chứng cho thấy sự độc lập của cơ quan tư pháp thì quan trọng hơn lợi thế về số phiếu ủng hộ của đảng phái.

Một ví dụ sinh động hơn nữa xảy ra vào những năm 1930. Từ năm 1933 đến 1936, Tòa án Tối cao đã tuyên bố rất nhiều đạo luật trong chương trình Phát triển Kinh tế mới (New Deal) của Tổng thống Franklin D. Roosevelt là không hợp hiến. Chương trình này đã làm hồi sinh nền kinh tế Mỹ sau cuộc Đại Suy thoái. Vào năm 1936, Roosevelt tái đắc cử một cách tuyệt đối và Đảng của ông chiếm đa số ở cả hai viện trong Quốc hội. Ngay sau khi tái đắc cử, Roosevelt đã tuyên bố ý định giải quyết vấn đề Tòa án Tối cao bằng cách đưa ra luật cho phép ông được bổ nhiệm một lúc tối đa thêm sáu thẩm phán nữa. Hầu hết phản ứng của công chúng và của Quốc hội là chống lại kế hoạch của Tổng thống và kế hoạch này không được chấp nhận. Cho dù người dân và các Nghị sỹ ủng hộ chính sách kinh tế của Roosevelt nhưng họ cho rằng sự độc lập của Tòa án Tối cao là quan trọng hơn những bất đồng về chính sách vào thời điểm đó.

Ngày nay, chúng ta lại có vấn đề gây tranh cãi về khả năng lập pháp của Tòa án Tối cao. Tuy nhiên, vấn đề thảo luận lại là phán quyết thế nào là trung thành với Hiến pháp. Việc thảo luận này là lành mạnh và thực tế là cần thiết, trong một xã hội tự do dân chủ. Nhưng còn mong ước về tính độc lập của Tòa án đối với các cơ quan của chính phủ thì đương nhiên là không có gì phải bàn cãi; đối với vấn đề này, cũng như là đối với sự sáng suốt trong phương pháp chọn lựa thẩm phán Tòa án Tối cao, các bài học trong lịch sử là đã rõ ràng và thuyết phục.

Có lẽ sự đảm bảo cơ bản cho cả sự độc lập và tính trung thành của Tòa án là sự liên hệ ngay lập tức của mọi người tới dân chủ và pháp quyền. Hơn một thế kỷ trước đây, James Bryce, nhà luật học và sử gia người Anh, trong bài nghiên cứu kinh điển của mình về Chính phủ Hoa Kỳ có tiêu đề Liên bang Hoa Kỳ đã kết luận phần thảo luận về ngành tòa án như sau: “Đối với nhân dân sớm hay muộn chúng ta cũng đến; sự ổn định của cơ cấu chính phủ được hình thành một cách tinh vi nhất cuối cùng sẽ phụ thuộc vào chính dự sáng suốt và kiềm chế của nhân dân”.

Ý kiến nêu trong bài viết này là của tác giả.
TÒA ÁN TỐI CAO HOA KỲ: TÒA ÁN CAO NHẤT CỦA QUỐC GIA
Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 4/2005

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov

TÒA ÁN TỐI CAO HOA KỲ: TÒA ÁN CAO NHẤT CỦA QUỐC GIA (Bài 2: Toà án Tối cao – Một thể chế độc nhất vô nhị) Thứ Năm, Dec 11 2008 

John Paul Jones
Được thành lập theo Hiến pháp vào năm 1789, Tòa ánTối cao vừa là cơ quan phán xử cuối cùng trong các vụ án quan trọng vừa là cơ quan thẩm định tối cao về tính hợp hiến của các đạo luật cụ thể. Hiến pháp ngay từ đầu đã nêu cụ thể thẩm quyền của Tòa nhưng lại không nêu rõ Tòa sẽ hoạt động theo phương thức nào, thậm chí ngay cả số lượng các thẩm phán phục vụ tại Tòa hoặc họ cần phải có phẩm chất gì. Như vậy, các vị Cha lập quốc đã dành cho Tòa án Tối cao của chúng ta sự linh hoạt cần thiết để đáp ứng nhu cầu của người dân.

John Paul Jones là Giáo sư Luật tại Đại học Richmond, bang Virginia, kiêm biên tập viên Tạp chí Thương mại và Luật Hàng hải. Ông đã góp phần biên soạn Từ điển Tiểu sử các Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ và là tác giả của nhiều công trình về chủ quyền trên biển, luật hành chính và nhiều chuyên ngành luật khác.

Ở nhiều quốc gia hiện đại, có một tòa án có thẩm quyền thẩm định tính hợp hiến trong các hoạt động của quốc hội và ngành hành pháp trong khi lại có một tòa án khác đóng vai trò là tòa thượng thẩm. Tòa án Tối cao Hoa Kỳ là một trong số ít các tòa án được phép hoạt động vừa với tư cách là tòa án cao nhất của quốc gia vừa là cơ quan phân xử cuối cùng tính hợp hiến, hợp pháp. Do đó, công việc của Tòa trong một ngày có thể là giải quyết các vấn đề có ý nghĩa lịch sử lớn lao, trong khi những ngày khác, Tòa lại bận rộn với những công việc lặt vặt của một tòa phúc thẩm, bao gồm giám sát Bộ Tư pháp Liên bang và chấn chỉnh những quyết định không hợp hiến do các tòa cấp dưới ban hành.

Hiến pháp Hoa Kỳ quy định Tòa án Tối cao Hoa Kỳ là tòa án có quyền “xét xử sơ thẩm” duy nhất đối với hai loại hình tranh chấp hiếm khi xảy ra: thứ nhất là trường hợp một tiểu bang khởi kiện một tiểu bang khác (thường liên quan đến tranh chấp biên giới và lãnh hải) và trường hợp thứ hai có liên quan đến một nhà ngoại giao nước ngoài. Tòa án Tối cao còn đóng vai trò Tòa phúc thẩm đối với tất cả các trường hợp khác thuộc thẩm quyền tư pháp liên bang. Theo hệ thống liên bang của Hoa Kỳ, quyền lực tư pháp bị hạn chế bởi tư cách pháp nhân của người khởi kiện (quy định “chấp nhận tính đa dạng” liên bang được áp dụng với các vụ án liên quan tới công dân của các tiểu bang khác nhau) và nội dung tranh chấp (vụ án phải phát sinh trong khuôn khổ quy định của Hiến pháp, luật liên bang, hay một điều ước mà Hoa Kỳ là một bên tham gia ký kết). Trong hệ thống liên bang, các tòa án cao nhất của 50 tiểu bang vẫn là các tòa thượng thẩm đối với tất cả các vụ án trong đó luật của tiểu bang được áp dụng với các tranh chấp giữa công dân của chính tiểu bang đó. Tương tự như các tòa án tiểu bang và liên bang dưới đây, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ nhìn chung cũng xét xử các vụ án bằng cách viện dẫn các chuẩn tắc có trong hệ thống án lệ, trong các vụ án đã được xét xử trước đây, trong các đạo luật hoặc trong hiến pháp của tiểu bang hoặc liên bang. Kế từ vụ Marbury kiện Madison (1803) đến nay, nhiều tòa án ở Hoa Kỳ đều có quyền thẩm định hoạt động của chính phủ xem có phù hợp với đạo luật cao nhất của quốc gia – Hiến pháp Hoa Kỳ – hay không.

Do quyền mở phiên tòa sơ thẩm bị hạn chế nên các cuộc tranh luận lớn về vấn đề này ở Mỹ đã được đưa ra phân xử tại Tòa án Tối cao hoặc hình thức tương tự tại các cấp tòa án tiểu bang hoặc liên bang. Như vậy, tính đến lúc các cuộc tranh luận về hiến pháp được đưa đến Tòa án Tối cao thì chúng đã được mổ xẻ, sàng lọc và đôi khi cốt lõi của nó đã được điều chỉnh thông qua các lập luận trước đó của các luật sư và phán quyết của một hoặc nhiều tòa cấp dưới. Tòa án Tối cao là tòa phân xử cuối cùng cho hầu hết tất cả các vụ tranh chấp như vậy.

Vì lẽ đó, các cuộc tranh luận hiến pháp chỉ được đem ra phân xử tại Tòa án Tối cao khi và chỉ khi chúng gắn với các vụ án cụ thể giữa các bên đương sự có thực. Theo Điều III Hiến pháp Hoa Kỳ, quyền lực của Tòa án Tối cao, tương tự như quyền của các tòa án liên bang khác, bó hẹp trong phạm vi “các vụ án thuộc Luật và Luật Công lý” (). Không một tòa án liên bang nào, bao gồm cả Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, có thể phân xử ý kiến tư vấn, thậm chí ngay cả khi Tổng thống hay Quốc hội yêu cầu. Cho dù cuộc tranh luận có lớn đến đâu chăng nữa, Tòa án Tối cao vẫn sẽ không phân xử trừ phi tranh luận đó thể hiện cụ thể qua một cá nhân hay một tầng lớp cụ thể dưới hình thức một vụ vi phạm nào đó mà luật sẽ thừa nhận. Đôi khi, các nhóm không liên quan nhưng quan tâm tới việc thiết lập một nguyên tắc pháp lý nào đó sẽ giúp đỡ nguyên đơn trong một vụ án cụ thể với hy vọng chuẩn bị cho một kháng cáo đến được Tòa án Tối cao.

Hiến pháp Hoa Kỳ (tại điều III, khoản 2) đã quy định cụ thể các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án Tối cao nhưng lại không quy định về việc liệu thẩm quyền đó có thể bị thay đổi hay không và như thế nào. Tòa đã phán rằng quyền mở phiên tòa sơ thẩm của Tòa sẽ không thể mở rộng trừ phi có sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Lôgíc của lập luận này cũng là nền tảng cho kết luận về việc hạn chế quyền mở phiên tòa sơ thẩm của Tòa.

Tuy nhiên, Hiến pháp lại không “im lặng” trước vấn đề liệu quyền kháng án của Tòa án Tối cao có thể bị thay đổi hay không và như thế nào. Điều III, khoản 2 cho phép Quốc hội có quyền thay đổi quyền mở phiên tòa phúc thẩm của Tòa án Tối cao bằng “những ngoại lệ hoặc các quy định”. Như vậy, Tòa án Tối cao chỉ có thể tiếp tục được phép mở phiên tòa phúc thẩm đối với những vụ tranh chấp lớn về hiến pháp khi và chỉ khi có sự chấp thuận của ngành lập pháp. Thậm chí có quyền như vậy nhưng Quốc hội mới chỉ duy nhất một lần (trong một vụ án liên quan tới giam giữ tù binh thời nội chiến [1861-1865]) thấy cần thiết phải hạn chế việc mở phiên tòa phúc thẩm Tòa án Tối cao. Ngày nay, bất cứ nỗ lực nào của Quốc hội nhằm hạn chế việc mở phiên tòa phúc thẩm của Tòa chắc chắn sẽ gây tranh cãi kịch liệt.

Dĩ nhiên, việc mở phiên tòa chỉ có nghĩa là xác định phạm vi của các vụ án đủ điều kiện để xét xử lại. Hiến pháp không ép buộc Tòa án Tối cao phải chấp nhận bất cứ một đơn kháng cáo cụ thể nào. Thực vậy, người ta luôn cho rằng sẽ không thể làm khác được nếu xét tới số lượng đơn xin kháng án khổng lồ và nguồn lực tương đối hạn chế của Tòa để có thể ra phán quyết. Bản thân Tòa lựa chọn tuyệt đại đa số các bản án để xét xử theo nguyên tắc writ of certiorari (nguyên tắc xét xử lại bản án), một quy định hướng dẫn tòa cấp dưới gửi toàn bộ hồ sơ bản án để xét xử lại.

MỘT SỐ CÁC ĐIỀU LUẬT CƠ BẢN

Quy định trong Hiến pháp về việc thành lập Tòa án Tối cao lại cố tình chỉ đưa ra rất ít nguyên tắc cơ bản về quyền tài phán của Tòa. Hiến pháp không đưa ra trình tự làm việc của Tòa án Tối cao. Thực tế thì quy định về cơ cấu tổ chức Tòa án rất không rõ ràng. Điều III của Hiến pháp không hạn chế số lượng thẩm phán của Tòa án Tối cao, còn Quốc hội, cơ quan có quyền thay đổi số lượng thẩm phán và cơ cấu tổ chức của Tòa án, thì hơn một thế kỷ nay không dùng đến quyền này cho dù lượng công việc của Tòa án đã tăng lên rất nhiều. Hơn nữa, Tòa án Tối cao vẫn tiếp tục quyết định chỉ xét xử khi tất cả các thẩm phán của Tòa có thể tham dự.

Không giống như các bản hiến pháp hiện đại, Hiến pháp Hoa Kỳ không quy định rõ các thẩm phán phải ra phán quyết bằng văn bản, nhưng các Tòa án Hoa Kỳ, trong đó bao gồm cả Tòa án Tối cao, từ lâu đã áp dụng thông lệ lưu lại các ý kiến giải thích và tranh luận của các thẩm phán bằng văn bản. Mặc dù thông lệ của Tòa án Anh từ trước tới nay là công bố quan điểm của các thẩm phán trong một phiên tòa một cách riêng rẽ, nhưng Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã sớm áp dụng phương thức khác là một trong số các thẩm phán sẽ viết ra ý kiến tổng hợp của tất cả các thẩm phán và văn bản này sẽ được một hay nhiều thẩm phán ký tên. Toàn văn của các ý kiến này từ lâu đã được xuất bản để cho mọi người ở Mỹ hay ở trên toàn thế giới có thể xem xét lại hầu như ngay lập tức những lập luận pháp lý mà theo đó các phán quyết quan trọng được đưa ra. Ngay từ đầu, người ta đã có thể biết được những ý kiến bất đồng của một số thẩm phán và những ý kiến này được công bố cùng với ý kiến của các thẩm phán chiếm đa số. Việc này cho phép độc giả biết được, chẳng hạn như, ý kiến của thiểu số đã suýt thuyết phục được một hay vài vị thẩm phán thuộc phe đa số như thế nào. Trong lịch sử Hiến pháp Hoa Kỳ đã có vài trường hợp những diễn giải của phe thiểu số sau đó được đa số ủng hộ.

Tuy Hiến pháp Hoa Kỳ đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể về tuổi tác, nơi cư trú và quốc tịch đối với Tổng thống và các Nghị sỹ nhưng lại không đưa ra những tiêu chuẩn tương tự đối với thẩm phán của Tòa án Tối cao mà chỉ quy định rằng những thẩm phán này phải do Tổng thống lựa chọn và được đa số Thượng Nghị sỹ tán thành. Thực tế là những thẩm phán này không cần phải có kinh nghiệm làm thẩm phán, không cần có chuyên môn trong lĩnh vực lập pháp và cũng không cần phải được đào tạo về luật. Tuy nhiên, tất cả những người được Tổng thống đề cử làm thẩm phán đều xuất thân là những người được đào tạo về luật và có kinh nghiệm làm thẩm phán hay luật sư. Trong một vài trường hợp, những tranh cãi gay gắt của cơ quan lập pháp về các khía cạnh đạo đức (chế độ nô lệ, việc nạo phá thai, tệ phân biệt chủng tộc) đã chia rẽ ý kiến của nước Mỹ trong việc lựa chọn thẩm phán của Tòa án Tối cao, nhưng việc người được đề cử làm thẩm phán ủng hộ hay phản đối các vấn đề gây tranh cãi có quyết định đến sự lựa chọn hay không vẫn còn là một câu hỏi chưa có câu trả lời.

Theo Hiến pháp đã được sửa đổi, mỗi Tổng thống Hoa Kỳ sẽ giữ chức theo nhiệm kỳ bốn năm và chỉ có thể được tái cử thêm duy nhất một nhiệm kỳ. Thượng Nghị sỹ Hoa Kỳ có nhiệm kỳ sáu năm và được tái cử không hạn chế, còn Hạ Nghị sỹ Hoa Kỳ có nhiệm kỳ hai năm và cũng được tái cử không hạn chế. Ngược lại, thẩm phán Tòa án Liên bang, kể cả các thẩm phán Tòa án Tối cao, được giữ chức cho đến hết đời. Thẩm phán Tòa án Tối cao trẻ nhất của Hoa Kỳ được bổ nhiệm khi ông mới 29 tuổi. Một thẩm phán khác tại vị tới 34 năm và trong hơn 10 năm trở lại đây chưa có thẩm phán Tòa án Tối cao mới nào được bổ nhiệm.

CÁC VẤN ĐỀ LẬP HIẾN

Không phải tất cả các tranh cãi về hiến pháp Hoa Kỳ đều gay gắt và không phải ai cũng biết đến những tranh cãi đó. Những tranh cãi này không phải lúc nào cũng được Tòa án Tối cao hay bất cứ một Tòa án nào phân xử. Cũng giống như ở các quốc gia khác trên thế giới, hàng loạt các vấn đề liên quan tới hiến pháp đều được các quan chức chính phủ Liên bang hay bang quyết định hàng ngày trong khi thực thi nhiệm vụ của họ, hoặc cũng có thể được quyết định thông qua bỏ phiếu ở Quốc hội hay tại các Hội đồng Lập pháp bang. Vì vậy, hầu hết các vấn đề hiến pháp ở Hoa Kỳ là do các quan chức được bầu ra một cách dân chủ giải quyết. Các quan chức này được bầu ra để phụ trách các cơ quan quyền lực của chính phủ và họ sẽ ra đi khi hết nhiệm kỳ, chính vì vậy mà cách thực thi Hiến pháp sẽ khác nhau tùy theo quan chức nào nắm quyền. Như đã đề cập ở trên, chỉ còn một số rất ít vấn đề gây tranh cãi cần có sự phân xử của Tòa án Tối cao và những vấn đề này thường rất dai dẳng và ai cũng biết đến. Chừng nào mà ý kiến của các luật gia về những vấn đề hiến pháp cơ bản vẫn không được đếm xỉa tới sau hàng loạt các cuộc tranh luận dai dẳng thì lúc đó ý kiến của một thẩm phán Tòa án Tối cao mới tương đối được coi trọng và có thể có uy lực hơn so với ý kiến của các quan chức nhà nước thuộc ngành hành pháp. Bỏ qua vấn đề về sự yếu kém mà ai cũng thấy rõ, chúng ta phải suy xét xem liệu bản thân Hiến pháp có được hệ thống như vậy thực hiện tốt hay không, một hệ thống trong đó điều khoản của Hiến pháp có thể bị ý kiến của một cá nhân vô hiệu hóa. Từ đầu thế kỷ XIX tới nay người ta đã đôi khi kêu gọi phải giới hạn nhiệm kỳ của các thẩm phán, đặc biệt là nhiệm kỳ của các thẩm phán Tòa án Tối cao, nhưng cho tới nay vẫn chưa thuyết phục được đa số phiếu cần thiết để đưa ra được điều bổ sung sửa đổi Hiến pháp này.

Trong quốc gia theo thể chế cộng hòa dân chủ liên bang như Hoa Kỳ, đôi khi chúng ta e sợ khi thấy sự lớn mạnh của quyền lực tư pháp do Hiến pháp quy định. Một cơ quan tư pháp cấp liên bang không phải do dân bầu ra và chịu sự lãnh đạo của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ có quyền tuyên bố một điều luật là không hợp hiến và do đó có thể làm mất hiệu lực pháp lý những đạo luật do chính phủ và quốc hội ở cả cấp bang và liên bang, những cơ quan dân cử, ban hành ra. Thật đáng ngạc nhiên là nền tư pháp – chính trị kiểu này đã phát triển được khá lâu và không có xung đột lớn nào. Cho đến nay mới chỉ có ba lần các Điều bổ sung sửa đổi áp đảo được các phán quyết về Hiến pháp của Tòa – đó là việc phê chuẩn các Điều bổ sung sửa đổi 11 (hạn chế việc công dân một bang [hay công dân nước ngoài] kiện một bang khác của Mỹ ra Tòa án Liên bang, Điều bổ sung sửa đổi 14 (bác bỏ phán quyết trong vụ Scott kiện Sanford theo đó người da đen không có quyền khởi kiện ra tòa án liên bang) và Điều bổ sung sửa đổi 16 (cho phép Quốc hội được đánh thuế thu nhập). Tuy nhiên xem xét kỹ hơn sẽ cho chúng ta thấy quyền lực của Tòa án bị kiềm chế phần lớn là bởi những hạn chế do Tòa tự đặt ra (nhưng không kém phần có hiệu lực), cũng như là tùy thuộc vào khả năng chịu đựng về mặt chính trị khi Tòa làm việc. Nguyên tắc pháp quyền của Hoa Kỳ mang tính hay thay đổi, mang tính tập thể và có thể sửa đổi được; một điều khoản cứng nhắc của Hiến pháp có thể sẽ không tồn tại được lâu.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov

TÒA ÁN TỐI CAO HOA KỲ: TÒA ÁN CAO NHẤT CỦA QUỐC GIA (BÀI 1: “Giải thích pháp luật” – Toà án Tối cao với tư cách là cơ quan thẩm định tính hợp hiến) Thứ Năm, Dec 11 2008 

A.E. Dick Howard
Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã ban hành nguyên tắc của chế độ bảo hiến – quyền quyết định tính hợp hiến trong các đạo luật – ngay trong một trong những phán quyết đầu tiên của Tòa. Một chuyên gia pháp lý nổi tiếng đề cập tới việc thực hiện chế độ bảo hiến của Tòa trong suốt 220 năm lịch sử của Tòa, trong đó có nhiều ví dụ từ thế kỷ XIX tới nay. Dù Tòa có nhiều phán quyết trong các vụ án cụ thể, song tác giả kết luận rằng “Vai trò đảm bảo chế độ pháp trị của Tòa đòi hỏi phải có sự nhất trí rộng rãi của người dân Hoa Kỳ”.

A.E. Dick Howard là Giáo sư Luật và Hành chính tại White Burkett Miller kiêm Giáo sư Luật tại Trung tâm Nghiên cứu Roy L. và Rosamond Woodruff Morgan, Đại học Virginia tại Charlottesville. Ông là chuyên gia trong lĩnh vực luật hiến pháp và Tòa án Tối cao. Từ năm 1985 đến 1992, ông là chủ tịch Hội đồng 200 năm Hiến pháp Hoa Kỳ tại Đại học Virginia.

Những người soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ đã tuyên bố rõ ràng rằng văn bản này sẽ được coi là luật của các loại luật. Điều VI quy định Hiến pháp và các đạo luật “được ban hành theo Hiến pháp này” (cũng như các điều ước) sẽ là “Luật tối cao của quốc gia”. Các nhà soạn thảo Hiến pháp cũng trao quyền, tại Điều III, cho một Tòa án Tối cao và các tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập. Liệu hai điều khoản này, cùng được viện dẫn, có tạo điều kiện cho Tòa án Tối cao quyền hạn bác bỏ các văn bản luật, trong đó có các đạo luật của Quốc hội, được coi là mâu thuẫn với Hiến pháp hay không?

Nếu như các nhà soạn thảo Hiến pháp đã có chủ trương rõ ràng tại Hội nghị lập hiến năm 1787 tại Thành phố Philadelphia, bang Pennsylvania rằng chính quyền liên bang mới cần phải có một ngành tư pháp thì họ lại dành rất ít thời gian để cân nhắc “quyền tư pháp” sẽ có phạm vi đến chừng mực nào. Họ dành thời gian nhiều hơn để tranh luận về quyền hạn mà chính quyền liên bang mới có thể có, cơ cấu của Quốc hội liên bang, việc cân bằng quyền lực giữa tiểu bang và liên bang và bản chất của cơ quan hành pháp liên bang mới. Khi Hiến pháp dự thảo được chuyển tới một số tiểu bang để thông qua thì các cuộc tranh luận về phê chuẩn lại tập trung chủ yếu vào các mối quan tâm về quyền lực của liên bang nói chung – và về việc thiếu một tuyên ngôn nhân quyền.

CHẾ ĐỘ XEM XÉT LẠI BẢN ÁN

Ở cấp tiểu bang, chế độ xem xét lại bản án – quyền của một tòa án tuyên bố một đạo luật là không hợp hiến – chỉ xuất hiện trong những năm đầu tiên mới thiết lập chế độ cộng hòa. Tư tưởng dân chủ thì nhấn mạnh tới vai trò của các cơ quan lập pháp là thể chế đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Nhưng người Mỹ đã sớm phát hiện thấy các cơ quan lập pháp của họ, cũng giống như những ông hoàng hoặc quốc hội, có thể sẽ đe dọa quyền con người và quyền tự do của họ. Vì lẽ đó, cùng với tư tưởng tam quyền phân lập và nguyên tắc kiểm soát và cân bằng, chế độ bảo hiến đã trở thành trụ cột đảm bảo tính tối thượng của hiến pháp.

Ở cấp độ liên bang, chính Chánh án John Marshall là người đã tuyên bố công khai quyền xem xét lại theo thủ tục tư pháp của Tòa qua vụ Marbury kiện Madison (1803). Bằng ngôn từ nổi tiếng – sau này thường được viện dẫn trong các vụ án – Marshall đã tuyên bố “Trách nhiệm và bổn phận chính của cơ quan tư pháp là giải thích luật”. Và ông kết luận rằng bổn phận đó thậm chí bao hàm quyền của các tòa án được bác bỏ các đạo luật của Quốc hội nếu những đạo luật này bị phát hiện trái với Hiến pháp.

Mãi tới khi nổ ra cuộc Nội chiến Mỹ (1861-1865), tư tưởng hiến pháp của Tòa án Tối cao phần lớn tập trung vào các vấn đề xây dựng liên bang. Tuyên ngôn Nhân quyền, bổ sung vào Hiến pháp 1791, chỉ áp dụng với các đạo luật của liên bang chứ không phải của tiểu bang. Tuy nhiên, sau nội chiến, việc thông qua điều bổ sung sửa đổi thứ 14 đã buộc các bang không được tước bỏ quyền của bất cứ người nào được xét xử hoặc bảo vệ bình đẳng trước pháp luật. Theo thời gian, các quy định này đã trở thành nền tảng cho nhiều hoạt động lớn của Quốc hội (chẳng hạn Tuyên ngôn Dân quyền năm 1964) và là nền tảng pháp lý của ngành tư pháp (trong đó có phán quyết năm 1954 trong vụ Brown kiện Hội đồng Giáo dục tuyên bố phân biệt chúng tộc trong các trường công là vi phạm hiến pháp).

Trong các thập niên đầu thế kỷ XX, Tòa án Tối cao thường được coi là cơ quan bảo vệ tài sản và các doanh nghiệp trước các đạo luật cấp tiến. Chẳng hạn vào năm 1905, Tòa đã bác bỏ một đạo luật của tiểu bang New York giới hạn số giờ làm việc của những người làm bánh mì trong một ngày và tuyên bố những quy định như vậy là “sự can thiệp trắng trợn” vào quyền của các cá nhân. Cách nhìn nhận như vậy của ngành tư pháp đã khiến cho Tòa án Tối cao lâm vào thế mâu thuẫn với chương trình Phát triển kinh tế mới của Tổng thống Franklin Roosevelt trong những năm 1930. Trước nguy cơ “Tòa bị siết chặt thêm” – đề án tăng thêm số lượng thẩm phán tại Tòa – các thẩm phán đã đổi hướng và tôn trọng hơn các đạo luật cải cách kinh tế và xã hội của tiểu bang và liên bang.

Ngày nay, Tòa án Tối cao xem xét một số lượng lớn các vấn đề khác nhau. Đôi khi người ta còn gọi Hoa Kỳ là “xã hội nhiều kiện tụng”. Tất nhiên người Mỹ dường như đã khéo léo biến những tranh chấp thành các cuộc đua tài trước tòa – một đặc điểm mà Alexis de Tocqueville, người quan sát tài tình những đặc thù của Hoa Kỳ, đã bình luận ngay từ thế kỷ XIX. Trong thập niên 1960 khi Earl Warren là Chánh án, Tòa án Tối cao đã theo đuổi một chương trình nghị sự đầy tham vọng. Tòa đã phán quyết mỗi người một phiếu bầu (đảm bảo tới mức cao nhất mỗi khu vực cử tri có số dân bằng nhau) là nguyên tắc trong bầu cử các thành viên của cơ quan lập pháp. Tòa cũng áp dụng hầu hết thủ tục tố tụng đảm bảo Tuyên ngôn Nhân quyền tại tất cả các tiểu bang, ủng hộ phong trào dân quyền và mở đường cho việc thực hiện quyền riêng tư và tự quyết đã quy định trong Hiến pháp. Cho dù một số thẩm phán do các Tổng thống thuộc Đảng Cộng hòa bổ nhiệm chủ trương “hạn chế ngành tư pháp” song Tòa án Tối cao vẫn tự tin giải quyết nhiều vấn đề đại sự quốc gia.

Vậy Tòa án Tối cao có vai trò gì trong cuộc sống của người dân Hoa Kỳ? Một trong những nhiệm vụ chủ chốt của Tòa là đóng vai trò phân xử trong hệ thống liên bang. Chưa có vấn đề nào thu hút sự quan tâm của các nhà soạn thảo Hiến pháp tại Philadelphia nhiều bằng việc trao quyền hạn tương xứng cho chính phủ liên bang trong khi vẫn bảo vệ lợi ích của các tiểu bang. Do đó, Tòa án Tối cao thường xuyên được yêu cầu quyết định xem một đạo luật hay quy định của liên bang có cản trở hoạt động của tiểu bang hay không. Tương tự như vậy, người ta cũng thường yêu cầu Tòa phân xử liệu một đạo luật của tiểu bang, nếu không hợp lệ, có ảnh hưởng tới một số lợi ích quốc gia như tự do thương mại hay không. Chẳng hạn, khi tiểu bang Bắc Carolina thông qua một đạo luật, mặc dù bề ngoài mang tính trung lập, song đã phân biệt đối xử với mặt hàng táo từ tiểu bang Washington để tạo lợi thế cho những người trồng táo của họ, Tòa đã phát hiện hành vi bảo hộ và vô hiệu hóa đạo luật đó của tiểu bang Bắc Carolina.

QUYỀN CÁ NHÂN

Tòa án Tối cao cũng đóng vai trò chủ yếu trong việc đảm bảo các quyền con người và quyền tự do cá nhân. James Madison đã từng tỏ ra lo ngại Tuyên ngôn Nhân quyền có thể sẽ chỉ là một “quy định trên giấy tờ”. Tuy nhiên, trong thời gian qua Tòa đã tích cực thực hiện các quy định đã nêu trong Tuyên ngôn không chỉ chống lại chính quyền liên bang (mục đích ban đầu của họ) mà còn cả các chính quyền tiểu bang. Việc Tòa diễn giải những quyền đã được Hiến pháp bảo vệ thường rất ngay thẳng và mạnh mẽ. Chẳng hạn, năm 1963, Tòa đã phán rằng quyền được tư vấn pháp lý tại điều bổ sung sửa đổi số VI không chỉ bao hàm quyền được sự giúp đỡ của luật sư tại tòa mà còn là quyền được có luật sư do tiểu bang chỉ định và thanh toán nếu bị cáo nghèo tới mức không thể thuê nổi luật sư. Các thẩm phán cũng đặc biệt quan tâm tới quyền tự do ngôn luận. Do vậy, vào năm 1964, Tòa đã tuyên bố một “quan chức” khởi kiện về tội bôi nhọ phải tuân thủ một quy định rất khắt khe – “ác tâm có chủ ý” – tức là phải chứng minh được rằng người bôi nhọ biết rõ lời lẽ của anh ta là sai hoặc cố tình không đoái hoài tới tính chân thực trong lời nói của mình.

Chúng ta đã được chứng kiến cuộc tranh luận sôi nổi về việc liệu Hiến pháp có nên được coi là một văn bản “trường tồn” hay không. Một số người lập luận rằng các thẩm phán nên tìm hiểu “nghĩa gốc” của Hiến pháp – tức là, ý nghĩa đã được các nhà soạn thảo Hiến pháp chuyển tải và có lẽ được củng cố thêm qua thông lệ và các tiền lệ. Một số người khác thì coi Hiến pháp có tính định hướng nhiều hơn. Do đó, trong các vụ án phát sinh trong khuôn khổ quy định cấm áp dụng những hình phạt dã man và khác thường nêu trong Điều bổ sung sửa đổi số VIII, Tòa án Tối cao đã đưa ra khái niệm “áp dụng chuẩn tắc theo thời gian”, cho phép Tòa tuyên bố, ví dụ vào năm 2005, quy định tử hình các phạm nhân trẻ tuổi là trái Hiến pháp.

Rõ ràng là Tòa đã vượt khỏi phạm vi những ngôn từ nêu trong bản Hiến pháp khi thừa nhận và bảo vệ những quyền cụ thể. Một ví dụ điển hình là quyền riêng tư và tự quyết. Chiểu theo quy định đảm bảo quy trình xét xử do luật định trong Điều bổ sung sửa đổi số V và XIV, Tòa đã xác định và mở rộng quyền đó để đảm bảo các lợi ích khác như quyền tránh thai, quyền của phụ nữ được quyết định nạo phá thai và vào năm 2003, quyền không bị tiểu bang trừng phạt vì hành vi đồng tính. Có thể hầu như tất cả các vụ án đưa ra xét xử tại Tòa án Tối cao đều đòi hỏi phải giải thích luật, song những phán quyết của Tòa, nhất là về quyền quyết định nạo phá thai và không bị trừng phạt vì đồng tính nêu trên, lại gây nhiều tranh cãi. Vì không có các quy định cụ thể trong hiến pháp về quyền riêng tư nên họ phải chủ yếu dựa vào lập luận và giải thích của tòa. Song cho dù các thẩm phán sẽ hành động như thế nào đi chăng nữa trong các vụ xét xử trong tương lai, cũng thật khó có thể tưởng tượng Tòa án Tối cao với thiết chế như hiện nay lại tuyên bố rằng nhìn chung không có cơ sở hiến pháp cho khái niệm quyền riêng tư cá nhân.

Theo Hiến pháp, các thẩm phán của Tòa án Tối cao đương nhiệm suốt đời với “tư cách đạo đức tốt”. Chưa từng có một thẩm phán nào bị phế truất. Tuy nhiên, việc bổ nhiệm vào Tòa án Tối cao trong những thập niên gần đây lại trở thành những sự kiện mang tính chính trị cao. Các quyết định của Tòa càng có phạm vi rộng bao nhiêu thì sự cạnh tranh càng cao bấy nhiêu khi xuất hiện một vị trí cần bổ nhiệm. Nếu vậy thì các phán quyết của Tòa phản ánh đến mức độ nào chính kiến và dư luận của xã hội hiện thời? Những người hoài nghi thì cho rằng các thẩm phán phải nên “đọc báo” để có thể tính tới dư luận xã hội khi định hình chính kiến của họ. Nhưng hầu như không có cơ sở cho quan điểm này. Về lâu dài, một phán xử công bằng hơn sẽ có nghĩa là Tòa có xu hướng phản ánh luồng dư luận chủ đạo trong xã hội. Vì vậy mà Tòa án Tối cao dưới thời Chánh án Warren trong thập kỷ 1960 lại tỏ ra đồng tình đối với những giải pháp của số đông người dân trước những vấn đề quốc gia đại sự. Tòa án Tối cao thời Chánh án Rehnquist hiện nay, xét từ một góc độ nào đó, mang tính bảo thủ nhiều hơn, đề cao vai trò của tiểu bang nhiều hơn trong thể chế liên bang.

Các phán quyết của Tòa đặt ra một câu hỏi quan trọng: Ngành tư pháp không thông qua bầu cử có vị trí gì trong một nền dân chủ? Vốn từ lâu đã có sự giằng xé giữa hai nguyên tắc cơ bản trong một nền dân chủ tự do lập hiến – một chính phủ có trách nhiệm được đa số bầu ra một cách dân chủ lãnh đạo và thực thi Hiến pháp thậm chí nếu cần bác bỏ các đạo luật do phe đa số đó hậu thuẫn. Chế độ bảo hiến là cực kỳ quan trọng vì nó củng cố các nguyên tắc dân chủ, chẳng hạn mỗi người dân, một phiếu bầu; tiến hành bầu cử tự do và công bằng; tự do ngôn luận và tự do báo chí. Chế độ pháp trị – đúng theo tư tưởng của Hiến pháp – yêu cầu Hiến pháp phải được thực thi với tư cách là đạo luật tối cao của quốc gia. Tòa án Tối cao có thể phạm sai lầm trong một số vụ xét xử cụ thể nào đó. Song vai trò đảm bảo chế độ pháp quyền của Tòa đòi hỏi phải có sự nhất trí rộng rãi của người dân Hoa Kỳ.

Những quan điểm nêu trong bài viết này là quan điểm của riêng tác giả.
Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 4/2005
Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov

Thảo luận các vấn đề về môn học luật so sánh Thứ Ba, Dec 9 2008 

Mời các bạn tham gia thảo luận những vấn đề về môn học luật so sánh tại đây.

Trang sau »