Hồi ức của Jack Greenberg
Năm 1954, một luật sư 27 tuổi trong số 7 luật sư đã thuyết phục Tòa án Tối cao Mỹ rằng phân biệt chủng tộc là trái với hiến pháp. Vị luật sư ấy, Jack Greenberg, với tư cách một người tham gia đã chia sẻ kinh nghiệm về phán quyết được cho là quan trọng nhất của Tòa án Tối cao trong thế kỷ XX và những suy nghĩ của ông về ảnh hưởng sâu rộng của vụ Brown kiện Hội đồng Giáo dục đối với xã hội Mỹ.

Greenberg là Giáo sư Luật tại Đại học Columbia, New York, ông là tác giả của một số cuốn sách, trong đó có Đội quân vận động ở các tòa án: Nhóm luật sư tâm huyết đã đấu tranh vì cuộc cách mạng đòi dân quyền như thế nào (1994).

Phán quyết trong vụ Brown kiện Hội đồng Giáo dục ngày 17/5/1954 là một phán quyết mang tính lịch sử và chắc chắn là một trong số các phán quyết quan trọng nhất của Tòa án Tối cao. Phán quyết đó cho thấy quyền được xét xử lại các vụ án, đặc biệt là bởi Tòa án Tối cao Mỹ, có khả năng dẫn đến sự thay đổi lớn lao về mặt xã hội. Vụ Brown đã đóng góp đáng kể cho sự chuyển đổi mối quan hệ chủng tộc ở Mỹ. Nguyên tắc của vụ Brown đã thúc đẩy đất nước tiến tới bình đẳng cho phụ nữ, những người tàn tật và người già và nhấn mạnh tầm quan trọng của tất cả những yêu cầu được đối xử bình đẳng khác. Tuy nhiên khi nhóm bảy luật sư chúng tôi, đứng đầu là Thẩm phán tương lai Thurgood Marshall tranh tụng vụ kiện, chúng tôi không thể tiên liệu được tác động sâu rộng của vụ này. Chúng tôi đã thấy trước thắng lợi, thắng lợi ấy sẽ khởi động một tiến trình chậm chạp tiến tới xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc ở trường học. Chúng tôi không thể hình dung nổi phản ứng mãnh liệt của miền Nam sau đó, cũng như phong trào đấu tranh đòi dân quyền bùng phát để hưởng ứng và đạo luật về dân quyền những năm 1960 cùng những tác động lan tỏa khác.

Ngày 9/12/1952 và 8/12/1953, tôi đứng trước Tòa án Tối cao Mỹ để tranh tụng trong một vụ kiện từ Delaware, một trong năm vụ kiện được biết tới với cái tên Brown kiện Hội đồng Giáo dục, hay còn gọi là Các vụ kiện về phân biệt chủng tộc ở trường học. Mục tiêu của chúng tôi là thuyết phục Tòa án Tối cao bác bỏ vụ Plessy kiện Ferguson được phán quyết năm 1896 cho phép phân biệt chủng tộc nếu các phương tiện dành cho người da đen ngang bằng với phương tiện dành cho người da trắng – cái được gọi là học thuyết phân biệt – nhưng – bình đẳng. Tôi cùng với Louis L. Redding, luật sư người Mỹ gốc Phi duy nhất tại bang Delaware đã tranh tụng trong một vụ kiện phát sinh ở bang này.

Tại sao chúng ta phải ra tòa? Không có biện pháp nào tốt hơn ư? Trong một nền dân chủ người ta sẽ nghĩ rằng để sửa chữa những bất công nghiêm trọng đó chỉ cần có quyền bầu cử là đủ. Tuy nhiên, ở giai đoạn đó quyền bầu cử đối với nhiều người Mỹ gốc Phi chỉ là ảo tưởng. Các nghị sĩ miền Nam đã không cho họ quyền đó bằng cách từ chối thẳng thừng, lừa dối, thay đổi nguyên tắc một cách bất hợp pháp và dùng những mưu kế khác. Do được tất cả các cử tri da trắng bầu lên và tái bầu, các nghị sĩ miền Nam đã giành được vị trí cao hơn và có ảnh hưởng lớn trong Quốc hội và luôn ở thế sẵn sàng ngăn cản bất cứ khả năng thay đổi luật pháp nào.

Chúng tôi cho rằng ngành tư pháp đã mang lại một công cụ để giải quyết bất công này. Hiến pháp Mỹ quy định ngành tư pháp độc lập, phần lớn tách rời chính trị. Hiến pháp còn bao gồm Tuyên ngôn Nhân quyền với mục tiêu bảo vệ những quyền cơ bản của tất cả người Mỹ, không cho chính phủ xâm phạm, ngay cả khi chính phủ đó được đa số bầu lên và đại diện cho lợi ích của đa số. Tuy vậy vụ Brown phải trông đợi rất nhiều vào hệ thống tư pháp. Chúng tôi yêu cầu phải chấm dứt tình trạng phân biệt chủng tộc – một thực tiễn bắt nguồn từ thời kỳ nô lệ – trên một phạm vi rộng lớn của đất nước.

Chúng tôi đưa ra hai lập luận chính. Thứ nhất, các trường học phân biệt chủng tộc, nếu có thì cũng rất hiếm khi bằng nhau. Ở bất cứ đâu nếu các trường dành cho người da đen rõ ràng là tồi tệ hơn (về trường lớp, sân bãi, ngân quỹ, sách vở, giáo viên, v.v…) thì để bình đẳng, học sinh da đen phải được nhận vào những trường tốt hơn. Đây là lập luận hạn chế, vì như vậy thì không nhất thiết phải chấm dứt tình trạng phân biệt chủng tộc mà chỉ cần cải thiện các trường dành cho người Mỹ gốc Phi. Tuy nhiên cho đến khi các trường được bình đẳng hóa và ổn định theo hướng đó thì học sinh da đen và da trắng phải được học chung trường. Không có tòa án nào yêu cầu các trường phải hợp nhất trên cơ sở này.

Lập luận thứ hai của chúng tôi là phân biệt chủng tộc là trái với hiến pháp ngay cả khi các trường phân biệt chủng tộc thực sự như nhau.

Vụ kiện của chúng tôi khác so với bốn vụ Brown còn lại ở chỗ chúng tôi đã chiến thắng tại các tòa án ở Delaware, trong khi đó những nguyên đơn ở Nam Carolina, Virginia, Kansas và Quận Columbia lại thất bại. Các tòa án ở Delaware thấy các trường dành cho người da đen tồi tàn hơn và yêu cầu họ chấm dứt ngay tình trạng phân biệt chủng tộc. Tuy nhiên, theo tinh thần của phán quyết vụ Plessy, các trường này không thừa nhận phân biệt chủng tộc là trái với Hiến pháp. Bang Delaware đã kháng cáo lên Tòa án Tối cao. Do vậy lợi ích là vô cùng to lớn và tôi biết điều đó.

Khi ấy tôi 27 tuổi và mới hành nghề luật từ năm 1949 và là luật sư trẻ nhất trong số những luật sư tranh tụng ngày ấy. Lúc đó thì tôi không biết, nhưng vụ Brown là lần đầu tiên trong số hơn bốn mươi lần tôi tranh tụng trong một vụ đòi dân quyền trước Tòa án Tối cao, còn hầu hết là sau khi tôi kế nhiệm Thurgood Marshall làm giám đốc-luật sư của Quỹ Giáo dục và Bảo vệ Pháp luật (LDF) thuộc NAACP, do Hiệp hội Quốc gia vì sự Tiến bộ của Người Da màu thành lập với tư cách là cơ quan tranh tụng miễn phí cho tổ chức này. Không lâu sau, LDF tách ra trở thành một tổ chức độc lập.

Hầu như không tưởng tượng nổi, nhưng khi tôi bắt đầu hành nghề luật năm 1949, hầu hết người Mỹ gốc Phi sống ở các bang nơi mà ở đó các nhà hàng không phục vụ họ, các khách sạn từ chối họ, xe lửa và xe buýt yêu cầu họ ngồi ở phần dành riêng cho người da đen, các cửa hàng bách hóa không cho họ thử quần áo, các công đoàn yêu cầu họ về các địa phương riêng rẽ, các chủ lao động trả công họ ít hơn để làm những công việc nặng nhọc và bẩn thỉu nhất. Mặc dù về lý thuyết công dân da đen có quyền bầu cử, nhưng trên thực tế ở hầu khắp miền Nam họ không được đi bầu cử ngay cả khi những sửa đổi hiến pháp thời kỳ sau Nội chiến đã hủy bỏ chế độ nô lệ, yêu cầu các bang phải trao cho người Mỹ quyền được pháp luật bảo vệ bình đẳng và cam kết không người Mỹ nào bị tước quyền bầu cử vì “lý do chủng tộc, màu da hoặc tình trạng nô lệ trước đó”.

CHUẨN BỊ ĐỂ RA TÒA

Vào thời điểm khi vụ Brown tới được Tòa án Tối cao, tất cả chúng tôi đã chuẩn bị kỹ càng. Trong quá trình tranh tụng ở bang, tôi đã nghiên cứu rất kỹ mọi khía cạnh của các trường học có liên quan tới phân biệt chủng tộc và tác động của tình trạng phân biệt chủng tộc đối với trẻ em ở các trường đó. Tôi đã nghiên cứu, phân tích luật và nguồn gốc của nó nhiều lần đến mức tôi có thể đọc thuộc lòng trong khi ngủ. Tại các phiên tòa ở Delaware và các phiên tòa khác, chúng tôi đã đưa ra rất nhiều bằng chứng về trường lớp, sân bãi, trang thiết bị, sách vở, giáo viên và nhiều thứ nữa. Những nhân chứng của chúng tôi là các nhà giáo dục, các nhà tâm lý học và các chuyên gia tâm thần học – những người đã chứng minh việc phân biệt chủng tộc cản trở trẻ em học hành như thế nào. Sau đó tôi và Louis Redding đã tranh tụng tại Tòa án Tối cao của bang. Chúng tôi viết rất nhiều tóm tắt hồ sơ vụ kiện gửi Tòa án Tối cao Mỹ. Trong những ngày trước khi tranh tụng tại Tòa án Tối cao, chúng tôi đã diễn tập trước một tòa án giả định gồm các luật sư và giáo sư luật. Các đồng nghiệp của chúng tôi trong các vụ khác cũng có sự chuẩn bị tương tự. Tôi diễn tập tất cả các vụ tôi tham gia tại Tòa án Tối cao và hầu như lần nào Tòa án Tối cao thật cũng hỏi tôi những câu mà người đóng vai thẩm phán ban đầu đã đặt ra.

Tranh tụng tại Tòa án Tối cao rất khác so với những gì được mô tả trên tivi hoặc đăng tải trên báo chí. Trước khi tranh tụng, các luật sư lập hồ sơ tóm tắt vụ kiện, những lập luận chính thức bằng văn bản giải quyết các vấn đề trước Tòa án. Khi các luật sư tranh tụng, Tòa án đã có trong tay những bản tóm tắt hồ sơ, quan điểm của các tòa án cấp dưới về vụ kiện và hồ sơ tất cả lời khai và bằng chứng trước tòa. Các luật sư trình bày theo kiểu đàm thoại. Họ trình bày trước Tòa án các điều khoản hiến pháp, các bộ luật khác và nguồn gốc của chúng, các tiền lệ, các số liệu có liên quan đến vụ kiện, hệ quả của một phán quyết và nhiều vấn đề khác nữa. Trong tranh tụng không có sự quát tháo, hô khẩu hiệu, không được vẫy tay. Tất cả đều rất chừng mực, vừa phải và thường như vậy. Đôi khi một số luật sư vượt ra ngoài thông lệ và khuôn khổ mang tính kiềm chế này, tuy nhiên điều đó chỉ có hại cho họ mà thôi vì các thẩm phán có thể liên tục đưa ra các câu hỏi – rất nhiều câu hỏi – và ngắt lời các luật sư bằng cách hỏi nhiều hơn nữa.

Tôi không lo sợ. Tôi đã làm tất cả những gì có thể để chuẩn bị và nghĩ rằng tôi biết mọi điều cần biết cũng như mọi điều sắp xảy ra. Dù lo sợ là phản xạ trong một tình huống hay là đặc tính cá nhân đi nữa thì trong những tình huống khó khăn tôi không bao giờ lo sợ. Đó không phải là hiện tượng tốt mà xuất phát từ kinh nghiệm của tôi trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Tôi ở trên một con tàu chở dầu cưỡi con sóng đầu tiên cập bờ biển Iwo Jima. Có lẽ tôi đã phải lo sợ, nhưng không, tôi đã làm tất cả mọi thứ có thể để chuẩn bị.

Trong các buổi tranh tụng hầu hết các thẩm phán đều tỏ ra thân thiện với chúng tôi, nhưng họ cũng không ngừng chất vấn. Dễ có đến hàng trăm câu hỏi trước khi các buổi tranh tụng kết thúc. Như thường lệ, người hỏi nhiều nhất là Thẩm phán Felix Frankfurter, một cựu Giáo sư Luật. Các câu hỏi rất bao trùm từ vấn đề liệu theo thời gian ý nghĩa của sự bình đẳng có thay đổi không cho đến vấn đề liệu Tòa án có nên ra lệnh chấm dứt ngay hay từ từ chấm dứt tình trạng phân biệt chủng tộc hay không trong trường hợp Tòa án phán quyết ủng hộ chúng tôi. Từ khi những nguyên đơn ở Delaware được tiếp nhận vào các trường dành cho người da trắng, do sự bất bình đẳng trong trường học chứ không phải bởi tính bất hợp pháp của tình trạng phân biệt chủng tộc, tôi và Louis Redding luôn bị chất vấn tại sao chúng tôi lại theo đuổi một phán quyết về vấn đề phân biệt chủng tộc. Tôi đưa ra câu trả lời rõ ràng rằng tình trạng phân biệt chủng tộc vẫn có thể tái diễn khi các trường đã ngang bằng nhau. Lúc ấy, sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu trong những vụ kiện khác, ngoại trừ vụ ở Delaware, chúng ta thừa nhận phân biệt chủng tộc là trái với hiến pháp. (Như kết quả cho thấy, trong tất cả các vụ khác Tòa án thừa nhận phân biệt chủng tộc là trái với hiến pháp, kể cả vụ ở Delaware.) Khi phiên tranh tụng kết thúc tôi không thể nghĩ được bất cứ điều gì lẽ ra tôi đã phải nói hoặc làm mà tôi không thực hiện được.

PHE ĐỐI LẬP

Phe đối lập của chúng tôi do John W. Davis dẫn đầu, vào thời đó ông là luật sư hàng đầu của Tòa án Tối cao. Ông từng là ứng cử viên Tổng thống Mỹ của Đảng Dân chủ. Ông đã tranh tụng hàng trăm vụ ở Tòa án. Ông là giám đốc công ty luật mạnh nhất ở Mỹ. Ông đưa ra một lập luận cực kỳ xuất sắc. Nội dung cơ bản của lập luận này là mục tiêu của điều khoản bảo vệ bình đẳng trong Điều sửa đổi thứ 14 không phải là xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc ở trường học. Các cuộc tranh luận tại Quốc hội cũng không nhằm mục tiêu này. Quốc hội đã thông qua Điều bổ sung sửa đổi thứ 14 còn dành ngân quỹ để duy trì các trường học phân biệt chủng tộc ở Quận Columbia do liên bang kiểm soát. Ở một số bang miền Bắc đã phê chuẩn Điều bổ sung sửa đổi này cũng có các trường học phân biệt chủng tộc. Còn về tiền lệ, Davis lập luận rằng Tòa án đã nhiều lần chấp nhận chủ trương phân biệt-nhưng-bình đẳng. Trong vụ Gong Lum kiện Rice năm 1927, Tòa án đã thừa nhận tính hợp hiến của các trường phân biệt chủng tộc ở Mississippi. Tuy nhiên, Davis cũng phải đối mặt với thực tiễn là những khái niệm hợp hiến đã thay đổi. Như một trong số các thẩm phán đã chỉ ra, cái gì đó được cho là bình đẳng năm 1865 có thể sẽ không còn là bình đẳng vào năm 1952. Những tiền lệ mà Davis đưa ra không hợp lý và ông đã phải vất vả tìm ra sự khác biệt của những vụ án mới đây, những vụ đấu tranh chống tình trạng phân biệt chủng tộc ở các trường trung học và chuyên nghiệp vì giá trị giáo dục của việc học tập trong các lớp đa dạng chủng tộc.

Davis đã mắc một sai lầm lớn trong cách hùng biện. Ông đã kể lại câu chuyện ngụ ngôn của Aesop về một chú chó lội qua suối đã đánh rơi mẩu thịt vì tham lam muốn giành một miếng khác, chỉ để nói rằng đó là sự phản ánh nguồn gốc mà giờ đây đã mất. Davis nhắc nhở chúng tôi hãy bằng lòng với sự bình đẳng đã tồn tại hoặc sẽ tồn tại giữa các trường dành cho người da đen và da trắng và đừng vứt bỏ nó đi chỉ để giành được “danh dự”. Thurgood Marsall nắm ngay lấy câu chuyện ngụ ngôn này và lập luận mạnh mẽ rằng “danh dự” chính là điều đang bị đe doạ. Tình trạng phân biệt chủng tộc đã bêu xấu và đẩy người da đen ra ngoài lề. Sự bình đẳng yêu cầu bang phải cho họ danh dự giống như đã dành cho các công dân khác.

Sau phiên tranh tụng tất cả chúng tôi đều nghĩ mình đã thắng, nhưng không chắc liệu phán quyết của Tòa án có nhất trí không. Như hồ sơ phân tích của Tòa án hiện nay cho thấy, tất cả các thẩm phán đều cho rằng phân biệt chủng tộc là trái với hiến pháp. Tuy nhiên một số người do dự khi đưa ra phán quyết đó vì họ sợ rằng miền Nam sẽ phản kháng. Họ không muốn làm phương hại đến uy tín của Tòa án nếu đưa ra một phán quyết không thể thi hành được. Để giải quyết vấn đề này, Tòa án quyết định tách phán quyết về tính hợp hiến của vấn đề phân biệt chủng tộc ra khỏi vấn đề làm thế nào để thực hiện phán quyết đó. Năm 1954, Tòa án thừa nhận phân biệt chủng tộc là trái với hiến pháp. Năm 1955 Tòa án đưa ra những tiêu chuẩn theo đó các trường học phải xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc.

PHÁN QUYẾT

Thurgood Marsall được tiết lộ rằng – có thể từ văn phòng lục sự, nhưng sẽ không ai được biết – các vụ kiện sẽ được quyết định vào ngày 17/5/1954. Có thể là do sắp hết nhiệm kỳ của Tòa án nên ông thử vận may và đến tòa án ngày hôm đó. Thực vậy, đó chính là ngày đưa ra quyết định. Ông đã gọi tôi vào văn phòng và tôi thông báo cho các nhân viên khác. Thông thường mỗi khi thắng một vụ lớn chúng tôi sẽ tổ chức ăn mừng ở văn phòng. Nhưng vụ Brown quá phức tạp, khó khăn nên chúng tôi chỉ đứng hoặc ngồi xung quanh, hầu như chẳng nói hay làm gì cả. Lẽ dĩ nhiên hôm đó và cả những ngày sau nữa có rất nhiều cuộc họp báo.

Thực vậy, Tòa án đã nhất trí phán quyết phân biệt chủng tộc ở trường học là trái với hiến pháp. Trong văn bản giải thích phán quyết của tòa án, Chánh án Earl Warren cho rằng những lập luận lịch sử chưa thuyết phục, nhưng ông chấp nhận quan điểm của chúng tôi về những tiền lệ gần đây yêu cầu tiếp nhận người Mỹ gốc Phi vào học tại các trường cao học và chuyên nghiệp. Tòa án cũng nhấn mạnh tác hại của tình trạng phân biệt chủng tộc ở trường học như sau:

Việc phân biệt trẻ em da trắng và da màu ở các trường công là có hại đối với trẻ em da màu. Tác hại sẽ lớn hơn nếu thực tiễn này được luật pháp cho phép vì chính sách phân biệt chủng tộc thường biểu hiện sự thấp kém hơn của nhóm người da đen. Ý thức về sự thấp kém hơn ảnh hưởng tới động cơ học tập của trẻ em. Do vậy, phân biệt chủng tộc được pháp luật cho phép có xu hướng làm chậm sự phát triển trí tuệ và học hành của trẻ em da đen và tước đi một số lợi ích mà lẽ ra chúng sẽ được hưởng nếu học trong hệ thống trường lớp hợp nhất các chủng tộc.

Tuy nhiên ảnh hưởng của vụ Brown đã vượt ra khỏi phạm vi các trường công. Có thể nhanh chóng thấy rõ ảnh hưởng đó trong các vụ án liên quan đến những khía cạnh khác của cuộc sống khi Tòa án có xu hướng cấm tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc do các bang đặt ra.

Liệu miền Nam có tuân thủ lệnh của tòa án yêu cầu xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc ở trường học hay không cũng là một chủ đề nhỏ trong các phiên tranh tụng. Một số người dự đoán sẽ có phản ứng mạnh mẽ và thậm chí cả bạo lực. Thực vậy, có thể đã có một hoặc nhiều luật sư có quan điểm bất đồng vì sợ rằng kết cục đó sẽ làm phương hại tới uy tín và vị thế của Tòa án. Để tách vấn đề thực thi ra giải quyết riêng rẽ, Tòa án đã lên kế hoạch tổ chức phiên tranh tụng về cách thức xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc ở trường học. Vấn đề này đã được quyết định năm 1955 trong một văn bản giải thích phán quyết thường được gọi là Brown II. Trong Brown II, Tòa án cho rằng không nên lấy thái độ thù địch đối với việc xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc làm lý do để biện minh cho sự trì hoãn thực hiện, tuy nhiên các trường học có thể giành thời gian để tiến hành những thay đổi hành chính, chẳng hạn như tái phân công giáo viên và học sinh. Tòa án Brown II phán quyết rằng việc xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc ở trường học phải được tiến hành “một cách thận trọng”- những ngôn từ đó cho thấy Tòa án đã ý thức được những khó khăn này.

Người ta đã tranh cãi nhiều xung quanh việc liệu những người đối lập có lợi dụng những ngôn từ này để làm chậm tiến độ xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc hay không. Tôi nghĩ là không. Không một ngôn từ nào trong quyết định thực thi có thể ngăn cản được phản ứng mãnh liệt đối với vụ Brown của những bang nơi mà luật pháp đòi hỏi phải phân biệt chủng tộc. Lực lượng cưỡng chế thi hành phán quyết rất mỏng. Tất cả các nghị sĩ quốc hội và các thượng nghị sĩ người miền Nam, ngoại trừ ba người (Lyndon Johnson, Albert Gore Sr. và Estes Kefauver) đều ký vào tuyên bố của phe miền Nam trong Quốc hội kịch liệt phản đối Tòa án Tối cao. Mười một bang miền Nam thông qua các Nghị quyết Phản đối và Vô hiệu hóa (tương tự các nghị quyết họ đã thông qua thời kỳ đầu cuộc Nội Chiến). Một số bang miền Nam còn lập ra các ủy ban Chủ quyền bang, các cơ quan chính quyền chuyên trách đấu tranh chống lại việc xóa bỏ hình thức phân biệt chủng tộc. Alabama, Georgia, Louisiana, Mississippi, Bắc Carolina, Nam Carolina và Virginia đã thông qua các bộ luật yêu cầu các trường học đóng cửa nếu họ tiếp nhận trẻ em da đen. Arkansas hủy bỏ bộ luật bắt buộc phải đi học của bang này.

Một số bang có hành động pháp lý chống lại Hiệp hội Quốc gia vì sự Tiến bộ của người Da màu và Quỹ Bảo vệ pháp luật của NAACP nhằm hạn chế hoặc cản trở hoạt động của các tổ chức này. Thủ thuật này đã bị chặn đứng bởi hai quyết định quan trọng của Tòa án Tối cao. Các quan chức đoàn luật sư bang tiến hành các thủ tục khai trừ khỏi đoàn luật sư đối với các luật sư đấu tranh đòi dân quyền ở Virginia, Mississippi, Florida và những nơi khác, tuy nhiên những nỗ lực này thất bại vì bị chống trả mạnh mẽ. Các bang cố gắng ngăn chặn việc xóa bỏ hình thức phân biệt chủng tộc đã thông qua các đạo luật Bố trí hoặc Sắp xếp học sinh, yêu cầu trẻ em da đen nếu muốn thay đổi trường phải qua rất nhiều thủ tục hành chính phức tạp. Một số gia đình người da đen dũng cảm muốn xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc đã bị xâm phạm về thân thể, bị sa thải hoặc không được vay tín dụng để sản xuất ở trang trại hoặc kinh doanh, đây là những biện pháp nhằm đe dọa những người khác.

Hầu như không có lực lượng nào đấu tranh chống lại những cuộc tấn công này và xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc trong trường học. Trong một phần của cuộc đấu tranh xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc này, Delaware, Alabama và Louisiana mỗi bang chỉ có duy nhất một luật sư người da đen, còn các bang miền Nam khác chỉ có rất ít. Đây chính là hậu quả của lệnh cấm gần như hoàn toàn không cho người da đen có bằng tốt nghiệp hoặc chuyên nghiệp từ bất cứ một trường danh tiếng nào ở bất cứ đâu trên phạm vi miền Nam cho đến tận năm 1950. (Ngay cả sau vụ Brown, vào cuối những năm 1960, để người da đen được vào các trường đại học ở Mississippi, Georgia, Alabama và Nam Carolina người ta vẫn phải kiện tụng. Cho đến tận năm 1964 Bộ Tư pháp Mỹ vẫn không có thẩm quyền thực hiện việc xóa bỏ phân biệt chủng tộc ở trường học).

NHỮNG TÁC ĐỘNG SÂU RỘNG

Mặc dù vậy, Brown đã hoàn thành được mục tiêu tham vọng của mình. Mục tiêu này không chỉ là chấm dứt tình trạng phân biệt chủng tộc trong trường học mà còn “khuấy động tinh thần nổi dậy” trong dân chúng Mỹ gốc Phi như Nathan Margold đã nói. Nathan Margold là cựu Chánh án Mỹ. Năm 1931 ông đã tư vấn cho NAACP đấu tranh chống lại việc tài trợ ít ỏi cho các trường học dành cho người da đen, coi đó là sự vi phạm điều khoản bảo vệ bình đẳng trong Điều sửa đổi thứ 14. Vụ Brown giúp thúc đẩy phong trào đấu tranh đòi dân quyền: biểu tình ngồi (người da đen ngồi trong quầy ăn trưa chỉ dành phục vụ cho người da trắng và không chịu đứng dậy cho đến khi được phục vụ), Tự do trên xe (người da đen và da trắng ngồi trong khu vực cấm trên xe lửa và xe buýt, với người da đen được ngồi ở ghế trước dành cho người da trắng) và hàng loạt các cuộc biểu tình do Martin Luther King, Jr dẫn đầu.

Các tòa án hầu hết đều nhất trí bảo vệ người biểu tình. Biểu tình của quần chúng gắn bó mật thiết với những hành động pháp lý dẫn tới việc ban hành Đạo luật về dân quyền năm 1964 và những đạo luật tương tự vào giữa những năm 1960. Mặc dù vụ Brown không giải quyết được các vấn đề chủng tộc của đất nước song xét ở hầu hết các khía cạnh thì đó là một thành công lớn. Rất nhiều thay đổi có lợi về mặt xã hội phần nào xuất phát từ vụ Brown. Đạo luật về Quyền bầu cử năm 1965 dẫn đến kết quả là có 43 (ít hoặc nhiều hơn, tùy từng năm) thành viên người da đen trong Quốc hội. Rất nhiều thành phố lớn, nếu không muốn nói là hầu hết, hiện hoặc từng có thị trưởng là người da đen. Các địa điểm công cộng trên cả nước mở rộng cửa đón cả người da đen lẫn da trắng và tất cả mọi người đều được tự do lui tới. Một vài năm trước tôi ngồi trong một nhà hàng ở Memphis, Tennessee và quan sát một đôi vợ chồng khác màu da đang nắm tay nhau ở bàn bên cạnh. Nếu ở thời điểm trước khi Đạo luật Dân quyền năm 1964 làm thay đổi các khu công cộng thì người đàn ông da đen trẻ tuổi này sẽ bị sách nhiễu hoặc hành hung.

Việc làm bình đẳng ngày càng trở thành hiện thực. Giờ đây không còn tồn tại những công đoàn địa phương phân biệt theo chủng tộc. Đạo luật về nhà ở công bằng phần nào phát huy hiệu quả và sẽ hiệu quả hơn nếu người da đen không bị hạn chế bởi thu nhập. Có rất nhiều giám đốc điều hành người da đen tại các tập đoàn lớn của Mỹ như Time Warner, Xerox, Citibank, Merrill Lynch và American Express. Khi tôi bắt đầu hành nghề luật năm 1949, lúc đó có những bang chỉ có duy nhất một luật sư người da đen và đoàn luật sư người da đen rất nhỏ. Ở thời điểm ấy, không đâu ở miền Nam người da đen lại có thể có bằng sau đại học hoặc chuyên nghiệp từ một trường danh tiếng ở miền Nam ngoại trừ trường Đại học Howard ở Washington, D.C. và Trường Y Meharry ở Nashville, Tennessee. Ở miền Bắc, mặc dù không bị cấm chính thức nhưng cơ hội cho người da đen cũng rất hạn chế. Trong lớp học tại trường Luật Columbia năm 1948 của tôi không hề có sinh viên người Mỹ da đen nào, còn ở lớp học tại trường cao đẳng năm 1945 thì chỉ có duy nhất một người. Hiện nay có hơn 10.000 sinh viên luật là người da đen. Khoảng 17% người Mỹ gốc Phi có bằng cao đẳng.

Tất cả những điều đó không có nghĩa là giờ đây chúng ta đã đạt được sự bình đẳng toàn diện. Chỉ vài con số như những số liệu về thu nhập, sự giàu có, y tế và số người bị bỏ tù đã cho thấy, về nhiều phương diện, cuộc sống của những người da đen không bằng người da trắng. Tuy nhiên, vụ Brown tiếp tục là minh chứng cho quyết tâm của người Mỹ theo đuổi những lý tưởng trong Hiến pháp của chúng ta và khẳng định rằng Tòa án Tối cao của chúng ta có thể là chất xúc tác dẫn đến sự thay đổi cơ bản. Và dĩ nhiên là sự thay đổi lớn lao đó đã diễn ra.

Ý kiến nêu trong bài viết này là của tác giả.
Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 4/2005
Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ej0405_vi.html