Quan điểm lịch sử về việc đề cử, phê chuẩn và bổ nhiệm thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ
Robert S. Barker
Việc bổ nhiệm một thẩm phán Tòa án Tối cao liên quan đến những cân nhắc về mặt nhân thân, chính trị và pháp lý. Một luật gia đã đưa ra những nhân tố ảnh hưởng tới việc Tổng thống chọn ứng cử viên cho chức vụ thẩm phán và việc Thượng viện phê chuẩn- hay phủ quyết- ứng cử viên. Mặc dù là Tổng thống và Thượng viện đều cố gắng bổ nhiệm các thẩm phán có cùng quan điểm chính trị, nhưng từ trước đến nay các thẩm phán Tòa án Tối cao đều thể hiện sự độc lập đối với các cơ quan của Chính phủ và người Mỹ không muốn thay đổi điều này.

Robert S. Barker là Giáo sư Luật nổi tiếng của trường Đại học Luật Duquesne ở Thành phố Pittsburgh bang Pennsylvania. Ông là Chủ tịch Ủy ban Luật Hiến pháp của Hội Luật gia Hoa Kỳ trong 12 năm và ông đã dạy Luật Hiến pháp tại trường Đại học Tổng hợp Buenos Aires, Ac-hen-ti-na với tư cách học giả chương trình Fulbright và ông là tác giả cuốn sách La Constitución de los Estados Unidos y su dinámica actual (dự kiến sẽ xuất bản trong năm 2005).

Vào năm 1791, khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ mới được thành lập chưa đầy hai năm, thì một trong những thẩm phán đầu tiên, John Rutledge, đã từ chức thẩm phán Tòa án Tối cao để trở thành Chánh án Tòa án bang quê hương ông, bang Nam Carolina. Bốn năm sau, Chánh án Tòa án Tối cao đầu tiên, John Lay, đã từ chức thẩm phán để trở thành Thống đốc bang New York, bang quê hương ông. Vào năm 1800, khi Tổng thống John Adams đề nghị Jay trở lại làm thẩm phán Tòa án Tối cao và tái đề cử ông làm Chánh án thì Jay đã từ chối và điều này cho thấy Tòa án Tối cao thiếu “sinh lực, tầm quan trọng và giá trị”. Trên thực tế, trong 10 năm hoạt động đầu tiên (1790-1800) thì đã có năm trong tổng số 12 thẩm phán đầu tiên của Tòa án Tối cao từ chức, trong khi ba người được đề cử khác (kể cả trường hợp của Jay năm 1800) từ chối không nhận lời làm thẩm phán Tòa án Tối cao hay từ chối giữ chức Chánh án. Dù một hoặc hai trong số trường hợp từ chức hay từ chối là do những lý do cá nhân, hầu hết các trường hợp đều cho ta thấy rằng, đúng như Jay đã nói, Tòa án Tối cao thiếu “sinh lực, tầm quan trọng và giá trị”.

Ngay sau đó, quan điểm này đã thay đổi khi ảnh hưởng của Tòa án Tối cao ngày càng gia tăng. Phán quyết quan trọng của Tòa năm 1803 trong vụ Marbury kiện Madison, khởi đầu cho việc “xem xét lại theo thủ tục tư pháp” (có nghĩa là quyền của thẩm phán từ chối áp dụng các điều luật mà bản thân thẩm phán cho là trái với Hiến pháp) và khả năng rõ rệt của Tòa án Tối cao trong việc giữ tính độc lập với các cơ quan của Chính phủ, đã đem lại uy tín và thẩm quyền lớn cho Tòa án Tối cao trong nền chính trị và luật pháp Hoa Kỳ.

CHỌN LỰA THẨM PHÁN

Do bản thân Tòa án Tối cao rất quan trọng nên quá trình lựa chọn các thẩm phán của Tòa rõ ràng là rất quan trọng. Điều III, Mục 1 của Hiến pháp giao quyền tư pháp của chính phủ quốc gia (hay chính phủ liên bang) cho “một Tòa án Tối cao và vào các tòa án cấp dưới do Quốc hội đôi khi thành lập”, quy định rằng các thẩm phán Tòa án Tối cao (cũng như các thẩm phán Tòa án Liên bang) sẽ có nhiệm kỳ cả đời nếu làm việc tốt và đảm bảo rằng lương của họ sẽ không bị cắt giảm trong suốt thời gian họ tại vị. Điều II, Mục 2 quy định rằng Tổng thống Hoa Kỳ “…sẽ đề cử và theo sự khuyến cáo và với sự chấp thuận của Thượng viện, sẽ bổ nhiệm … làm thẩm phán Tòa án Tối cao…”.

Alexander Hamilton, một thành viên có ảnh hưởng tới Hội nghị Lập hiến năm 1787, đã giải thích sự sáng suốt trong thủ tục bổ nhiệm này trong tờ Người Liên bang số 77 như sau:

Về sự nhất trí của Thượng viện với Tổng thống, trong điều khoản bổ nhiệm, đôi khi người ta thừa nhận rằng cho Tổng thống quyền gây ảnh hưởng với Thượng viện lại có lợi, còn trong vài trường hợp thì lại dẫn đến xu hướng phản đối, một minh chứng cho thấy cả hai cách đều không ổn.

Từ năm 1789 khi Tổng thống George Washington đưa ra thủ tục bổ nhiệm này thì các Tổng thống đã đề cử tất cả 148 người làm thẩm phán Tòa án Tối cao. Trong số đó thì sáu người được đề cử đã từ chối, 12 người bị Thượng viện từ chối, chín trường hợp Tổng thống rút lại đề cử (thường là do Thượng viện phản đối) và năm trường hợp Thượng viện trì hoãn bỏ phiếu (và do vậy thời cơ trôi qua mất). Như vậy là trong lịch sử thì khoảng bốn phần năm số lần đề cử của Tổng thống đã thành công.

Những người đạt tiêu chuẩn gì thì được đề cử và bổ nhiệm? Và tại sao khoảng 20% số lần đề cử lại không thành công? Việc đề cử ai liên quan đến sự cân nhắc về mặt pháp lý, chính trị và nhân thân không lần nào giống lần nào; tuy nhiên vẫn có những nét chung. Trước tiên, những người được đề cử làm thẩm phán Tòa án Tối cao đều là các luật sư. Mặc dù Hiến pháp không quy định điều này, nhưng ai cũng tự hiểu rằng những người có nhiệm vụ chính là giải thích và áp dụng luật thì phải được đào tạo về luật. Thứ hai, những người được đề cử thường là đồng minh của Tổng thống, là thành viên quan trọng trong đảng của Tổng thống hay là luật gia đồng tình với quan điểm của Tổng thống về các vấn đề pháp lý chủ chốt hiện hành. Chính vì vậy mà chẳng hạn như Roger Brooke Taney, một nhân vật hàng đầu trong phe của Tổng thống Andrew Jackson chống lại việc thành lập Ngân hàng Nhà nước Hoa Kỳ, đã được Tổng thống Jackson bổ nhiệm làm Chánh án Tòa án Tối cao vào năm 1836; và Abe Fortas, cố vấn thân cận của Tổng thống Lyndon Johnson, đã được bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa án Tối cao vào năm 1965.

Nhiều thẩm phán được bổ nhiệm trước đó đã là những nhân vật chính trị quan trọng trong đảng của họ: Salmon P. Chase được Abraham Lincoln bổ nhiệm làm Chánh án năm 1863 vốn đã từng là Thống đốc bang Ohio; Charles Evans Hughes, người đầu tiên được William Howard Taft bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa án Tối cao năm 1910 khi đang giữ chức Thống đốc bang New York; người đầu tiên được Franklin D. Roosevelt bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa án Tối cao (năm 1937) là Thượng Nghị sỹ Hugo L. Black của bang Alabama và người được bổ nhiệm sau đó, Frank Murphy, vốn đã từng là Thống đốc bang Michigan. Earl Warren đang làm Thống đốc bang California thì được Dwight Eisenhower đề cử làm Chánh án Tòa án Tối cao vào năm 1954. Nổi tiếng nhất là trường hợp Tổng thống Warren G. Harding năm 1921 đã đề cử cựu Tổng thống Taft làm Chánh án Tòa án Tối cao.

Đôi khi các Tổng thống cũng bổ nhiệm thành viên của đảng đối lập. Như Tổng thống Lincoln thuộc Đảng Cộng hòa đã bổ nhiệm Stephen J. Field, một thành viên chủ chốt của Đảng Dân chủ, làm thẩm phán Tòa án Tối cao vào năm 1863. Năm 1940, Tổng thống Franklin Roosevelt đã thăng chức cho thẩm phán Harlan Fiske Stone, đảng viên Đảng Cộng hòa, lên làm Chánh án. Năm 1945, Tổng thống Harry Truman, người của Đảng Dân chủ, đã bổ nhiệm Thượng Nghị sỹ Harold H. Burton của bang Ohio, người thuộc Đảng Cộng hòa. Năm 1956, ba tuần trước khi diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống, Tổng thống Eisenhower đã bổ nhiệm William J. Brennan thuộc Đảng Dân chủ. Còn có những ví dụ khác nữa về việc này nhưng dù sao thì đó cũng chỉ là những cuộc bổ nhiệm mang tính chính trị khi các Tổng thống phải tính toán để dành được đa số phiếu cử tri hay sự ủng hộ của Quốc hội.

Thông lệ bổ nhiệm các chính trị gia hàng đầu làm thẩm phán Tòa án Tối cao đã giảm mạnh trong nửa thế kỷ qua. Các Tổng thống gần đây có xu hướng đề cử những người đang làm thẩm phán. Trong số chín thẩm phán Tòa án Tối cao hiện nay, sáu người (John Paul Stevens, Antonin Scalia, Anthony M. Kennedy, Clarence Thomas, Ruth Bader Ginsburg và Stephen G. Breyer) đang là thẩm phán Tòa phúc thẩm liên bang khi được đề cử và hai người (Sandra Day O’Connor và David H. Souter) đang là thẩm phán Tòa phúc thẩm bang. Hiện nay vị thế chính trị của người được đề cử không quan trọng bằng sự tương hợp về tư duy với Tổng thống.

SỰ PHÊ CHUẨN CỦA THƯỢNG VIỆN

Hiến pháp không đưa ra tiêu chuẩn để Thượng viện thông qua hay phủ quyết một ứng cử viên; vì vậy các Thượng Nghị sỹ được tự do đưa ra tiêu chuẩn của mình. Người được đề cử bị Thượng viện phủ quyết đầu tiên là John Rutledge vào năm 1795. Rutledge vốn trước đó đã là thẩm phán Tòa án Tối cao nhưng đã từ chức năm 1791. Bốn năm sau khi Tổng thống Washington đề cử ông làm Chánh án Tòa án Tối cao thì nhiều Thượng Nghị sỹ đã phản đối do ông đã chỉ trích mạnh mẽ một hiệp ước gây nhiều tranh cãi ký kết với Anh năm 1794. Những người được đề cử khác không được phê chuẩn do một vài nguyên nhân: Alexander Wolcott bị phủ quyết năm 1811 do sự chống đối của cả hai đảng và cả hai đảng đều nghi ngờ về khả năng của ông. Vào năm 1844 và 1845, Tổng thống John Tyler đã sáu lần đề cử người vào vị trí bị khuyết trong Tòa án Tối cao và năm trong số sáu lần đề cử đó đều không thành công. Tổng thống Tyler là người thuộc Đảng Dân chủ được bầu làm Phó Tổng thống bằng phiếu của Đảng Whig và kế thừa chức vụ Tổng thống sau khi Tổng thống William Henry Harrison qua đời. Ông đã không giành được sự ủng hộ mạnh mẽ của cả hai đảng nhằm đảm bảo Thượng viện sẽ ủng hộ ông. Những người được đề cử khác, chẳng hạn như Ebenezer Hoar năm 1870 và Wheeler H. Peckham năm 1894, đã bị phủ quyết do sự phản đối của họ đối với yêu cầu ủng hộ về mặt chính trị đã gây thù oán đối với các Thượng Nghị sỹ có ảnh hưởng. Vào năm 1930, Thượng viện đã phủ quyết ứng cử viên John J. Parker của Tổng thống Herbert Hoover với cáo buộc rằng ông này chống lại giới lao động. Trong năm 1969 và 1970, Thượng viện đã phủ quyết hai ứng cử viên của Tổng thống Richard Nixon do những chỉ trích về trình độ cá nhân và quan điểm triết học của hai ông này. Việc phủ quyết ứng cử viên Robert H. Bork của Tổng thống Ronald Reagan năm 1987 được các đảng nhất trí cho rằng là do những thắc mắc về trình độ tư pháp của ông ta. Tóm lại, các ứng cử viên bị phủ quyết do hàng loạt các nguyên nhân như đảng phái, nhân thân và trình độ.

Hiến pháp không quy định về số thẩm phán của Tòa án Tối cao; số lượng thẩm phán luôn được quy định trong đạo luật liên bang. Lúc đầu Quốc hội cố định số lượng thẩm phán là sáu người. Kể từ đó đến nay đã có vài lần thay đổi về số lượng thẩm phán, ít nhất là năm và nhiều nhất là 10 người. Thường thì số lượng thẩm phán của Tòa án Tối cao được căn cứ trên trình độ xét xử; nhưng có một lần đáng lưu ý là do động lực chính trị. Vào năm 1866, Quốc hội quy định rằng số lượng thẩm phán phải bị cắt giảm từ 10 xuống còn bảy nhằm ngăn không cho Tổng thống Andrew Johnson được bổ nhiệm thêm thẩm phán Tòa án Tối cao nào nữa. Vào năm 1869, sau khi Tổng thống Johnson hết nhiệm kỳ thì số lượng thẩm phán lại được tăng lên chín người và giữ nguyên ở mức này từ đó đến nay.

SỰ ĐỘC LẬP CỦA NGÀNH TƯ PHÁP

Mặc dù những xung đột nêu ra ở trên cho chúng ta thấy khía cạnh chính trị trong việc bổ nhiệm các thẩm phán Tòa án Tối cao nhưng hai hiện tượng khác còn cho chúng ta thấy thực tế sâu sắc và quan trọng hơn: trước tiên là cho dù được bổ nhiệm trong hoàn cảnh nào nhưng một khi đã nhậm chức thì các thẩm phán Tòa án Tối cao phải luôn tỏ rõ tính độc lập đối với các cơ quan của chính phủ, bao gồm cả việc độc lập với chính Tổng thống đã bổ nhiệm họ. Chẳng hạn như vào năm 1902, Tổng thống Theodore Roosevelt đã bổ nhiệm Oliver Wendell Holmes, Jr. vào Tòa án Tối cao. Gần hai năm sau, trong một vụ án chống độc quyền có vai trò hết sức quan trọng đối với chương trình của Roosevelt, Holmes đã bỏ phiếu chống lại Tổng thống. Vào năm 1952, khi hành động tịch thu các nhà máy thép lớn ở Mỹ của Tổng thống Truman được đưa ra xem xét có hợp hiến hay không thì Tòa án Tối cao đã ra phán quyết chống lại Tổng thống với sáu phiếu thuận và ba phiếu chống. Trong số bốn thẩm phán do đích thân Truman bổ nhiệm thì hai người đã bỏ phiếu chống lại ông. Earl Warren, người được Eisenhower bổ nhiệm làm Chánh án Tòa án Tối cao, đã thường xuyên bỏ phiếu chống lại Tổng thống nhiều đến nỗi khi hết nhiệm kỳ Eisenhower đã nói rằng việc bổ nhiệm Warren là “lỗi lầm ngớ ngẩn tệ hại nhất khi tôi làm Tổng thống”. Vào năm 1974, trong vụ Hoa Kỳ kiện Nixon- vụ án liên quan đến việc Tổng thống Nixon từ chối không trao các cuốn băng của Nhà Trắng theo lệnh của Tòa với lý do đặc quyền hành pháp – ba trong bốn thẩm phán do Nixon bổ nhiệm đã bỏ phiếu chống lại ông ta, còn người thứ tư đã giải cứu cho Nixon.

Hiện tượng thứ hai – liên quan chặt chẽ tới hiện tượng thứ nhất – về tầm quan trọng của hiệu lực cao nhất của các phán quyết Tòa án Tối cao là nhân dân Mỹ mong đợi và yêu cầu Tòa án Tối cao phải độc lập với các cơ quan chính trị của chính phủ. Vào năm 1805, phe đa số của Tổng thống Jefferson tại Hạ viện, với mục đích hạ bệ cơ quan tư pháp liên bang (lúc bấy giờ do các thẩm phán theo chủ trương thành lập liên bang chi phối) đã tiến hành luận tội Thẩm phán Tòa án Tối cao Samuel Chase. Theo Hiến pháp, vấn đề này sau đó được tiến hành xét xử tại Thượng viện, nơi những người thuộc phe Jefferson chiếm đa số với tỷ lệ 25-9, nhiều hơn tỷ lệ cần thiết là 2/3 để sa thải một quan chức bị luận tội. Tuy nhiên, một số người theo phe Jefferson đã bỏ phiếu ủng hộ Chase và số phiếu này đủ để Chase không bị sa thải. Không còn bất cứ thẩm phán Tòa án Tối cao nào khác bị luận tội và vấn đề gây tranh cãi trong vụ Chase là bằng chứng cho thấy sự độc lập của cơ quan tư pháp thì quan trọng hơn lợi thế về số phiếu ủng hộ của đảng phái.

Một ví dụ sinh động hơn nữa xảy ra vào những năm 1930. Từ năm 1933 đến 1936, Tòa án Tối cao đã tuyên bố rất nhiều đạo luật trong chương trình Phát triển Kinh tế mới (New Deal) của Tổng thống Franklin D. Roosevelt là không hợp hiến. Chương trình này đã làm hồi sinh nền kinh tế Mỹ sau cuộc Đại Suy thoái. Vào năm 1936, Roosevelt tái đắc cử một cách tuyệt đối và Đảng của ông chiếm đa số ở cả hai viện trong Quốc hội. Ngay sau khi tái đắc cử, Roosevelt đã tuyên bố ý định giải quyết vấn đề Tòa án Tối cao bằng cách đưa ra luật cho phép ông được bổ nhiệm một lúc tối đa thêm sáu thẩm phán nữa. Hầu hết phản ứng của công chúng và của Quốc hội là chống lại kế hoạch của Tổng thống và kế hoạch này không được chấp nhận. Cho dù người dân và các Nghị sỹ ủng hộ chính sách kinh tế của Roosevelt nhưng họ cho rằng sự độc lập của Tòa án Tối cao là quan trọng hơn những bất đồng về chính sách vào thời điểm đó.

Ngày nay, chúng ta lại có vấn đề gây tranh cãi về khả năng lập pháp của Tòa án Tối cao. Tuy nhiên, vấn đề thảo luận lại là phán quyết thế nào là trung thành với Hiến pháp. Việc thảo luận này là lành mạnh và thực tế là cần thiết, trong một xã hội tự do dân chủ. Nhưng còn mong ước về tính độc lập của Tòa án đối với các cơ quan của chính phủ thì đương nhiên là không có gì phải bàn cãi; đối với vấn đề này, cũng như là đối với sự sáng suốt trong phương pháp chọn lựa thẩm phán Tòa án Tối cao, các bài học trong lịch sử là đã rõ ràng và thuyết phục.

Có lẽ sự đảm bảo cơ bản cho cả sự độc lập và tính trung thành của Tòa án là sự liên hệ ngay lập tức của mọi người tới dân chủ và pháp quyền. Hơn một thế kỷ trước đây, James Bryce, nhà luật học và sử gia người Anh, trong bài nghiên cứu kinh điển của mình về Chính phủ Hoa Kỳ có tiêu đề Liên bang Hoa Kỳ đã kết luận phần thảo luận về ngành tòa án như sau: “Đối với nhân dân sớm hay muộn chúng ta cũng đến; sự ổn định của cơ cấu chính phủ được hình thành một cách tinh vi nhất cuối cùng sẽ phụ thuộc vào chính dự sáng suốt và kiềm chế của nhân dân”.

Ý kiến nêu trong bài viết này là của tác giả.
TÒA ÁN TỐI CAO HOA KỲ: TÒA ÁN CAO NHẤT CỦA QUỐC GIA
Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 4/2005

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov